Tìm kiếm bài trong Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Wong Kar-wai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Wong Kar-wai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2019

Anh là một chuyên gia xoa dịu căng thẳng

Rất nhiều đạo diễn thích được hợp tác cùng Ca Ca Trương Quốc Vinh, bởi ngoài danh tiếng, tài năng và tính chuyên nghiệp tuyệt đối của anh (không bao giờ đến trễ, không bao giờ quên lời thoại) thì anh còn là một chuyên gia xoa dịu căng thẳng và giải quyết các vấn đề hậu trường.

- - -

1/ Tại thời điểm sang Argentina quay bộ phim Xuân Quang Xạ Tiết (Happy Together), khi biết bị Vương Gia Vệ lừa bằng một kịch bản giả và phải quay cảnh "nhạy cảm", Lương Triều Vỹ đã ở luôn trong phòng khách sạn ba ngày nhất định không chịu đi ra. Vương Gia Vệ không chùn bước, một hai vẫn nhất định đòi quay.


Cả đoàn phim lúc bấy giờ không khí rất căng thẳng, lặn lội từ Hồng Kông sang tận xứ sở Nam Mỹ xa xôi, rốt cuộc bộ phim có thể thực hiện hay không!
Với một người có tác phong làm việc nghiêm túc và chuyên nghiệp như Ca Ca mà nói, khi biết mình bị lừa anh dĩ nhiên hoàn toàn không vui. Cảnh quay này lại đòi hỏi phải mạo hiểm sự nghiệp và hình ảnh thần tượng của anh bởi đồng tính nam vẫn còn là đề tài cấm kị ở Hồng Kông vào thời điểm đó, đừng nói chi đến cảnh giường chiếu táo bạo!
Song trong tình huống này, ngoài anh ra thì không còn ai khác có thể gỡ rối.
Rốt cuộc, chỉ mình anh lặng lặng lẽ lẽ đến phòng Lương Triều Vỹ nhẹ nhàng thuyết phục, Lương Triều Vỹ liền gật đầu, cứu nguy cho Vương Gia Vệ một bàn trông thấy.


2/ Lâm Thanh Hà vốn là ngọc nữ của màn ảnh rộng Đài Loan, tuy nhiên vì vướng mắc chuyện đời tư cá nhân nên rời quê nhà sang Hồng Kông đóng phim. Ca Ca cùng Lâm Thanh Hà một dạo ngày ngày ở chung khu nhà trọ, mỗi sáng đều cùng nhau đón xe bus của công ty điện ảnh đến phim trường Đông Tà Tây Độc (Ashes of Time) và Đông Thành Tây Tựu (The Eagle Shooting Heroes). Một lần anh thuận miệng hỏi han về cuộc sống của nữ đồng nghiệp, Lâm Thanh Hà bất giác rơi lệ trầm mặc. Ca Ca quàng lấy vai cô và nói "Em sẽ đối xử tốt với chị". Kể từ đó, hai người nên duyên bạn bè.


Mọi người vẫn nói, Lâm Thanh Hà kể từ khi sang Hồng Kông thì sống khép kín, rất ít giao du, đặc biệt các nam đồng nghiệp càng khó tiếp cận. Chỉ riêng mình Trương Quốc Vinh là được Lâm tin tưởng nhất.
Phim Bạch Phát Ma Nữ Truyện (The Bride With White Hair) hai người cùng hợp diễn có một cảnh ái ân trong hang động phi thường nóng bỏng, so ra chẳng kém cạnh các cảnh yêu đương của điện ảnh Mỹ. Lâm Thanh Hà từng thổ lộ nếu bạn diễn của cô không phải là Trương Quốc Vinh thì dù có là Châu Nhuận Phát đi chăng nữa cô cũng không đồng ý diễn cùng.


3/ Năm 1991, công ty điện ảnh của Raymond Huỳnh Bách Minh quay bộ phim hài Gia Hữu Hỷ Sự (All's Well Ends Well) để trình chiếu nhân dịp Tết Nguyên Đán 1992. Bộ phim qui tụ rất nhiều ngôi sao của Hồng Kông: Trương Quốc Vinh, Trương Mạn Ngọc, Châu Tinh Trì, Ngô Quân Như ...


Trương Mạn Ngọc có phân cảnh được tạo hình như kiểu nhân vật robot Aphrodite A, với hai mảnh kim loại hình nón nhọn hoắt trước ngực. Kỳ thực đây là trang phục nhằm tái hiện hình ảnh cá tính của nữ hoàng nhạc Pop Madonna. Song Trương Mạn Ngọc không phải Madonna, vừa nhìn thấy bộ đồ quái dị liền lắc đầu nguầy nguậy.

Tạo hình cosplay Madonna của Mạn Ngọc trong phim

Huỳnh Bách Minh tâm sự: "Khi Trương Mạn Ngọc tới phim trường, cô ấy đã từ chối mặc bộ đồ đó. Tất cả mọi người đều rối trí, Ca Ca đã bảo tôi rằng: 'Cứ để tôi lo chuyện này!'. Và cuối cùng thì anh đã thuyết phục được cô ấy mặc nó. Không ai có thể nói điều gì không hay về Ca Ca, anh vừa rộng rãi, vừa thân thiện.". Và Huỳnh Bách Minh gọi Ca Ca là linh hồn của quá trình sản xuất.


- - -

Từ những chuyện trên có thể thấy Ca Ca có tư chất của một nhà đàm phán đại tài. Nếu không làm ca sĩ diễn viên, anh hoàn toàn có thể làm một chuyên gia ngoại giao. Song cũng có thể đơn giản là vì Ca Ca đã đối xử chân thành với mọi người bằng cả trái tim nên anh mới nhận về nhiều tình cảm từ mọi người đến như vậy!



Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Top 10 phim điện ảnh quốc tế hay nhất thập niên 90 của Tuần Báo Điện Ảnh Nhật Bản

Nguồn: Sohu
Dịch: Hang Vu & Heobeo


Tuần Báo Điện Ảnh (còn có tên gọi Kinema Junpo) là tạp chí phim ảnh lâu đời nhất của Nhật Bản. Ngày 5/09/19 tạp chí phát hành số đặc biệt kỷ niệm tròn 100 năm tuổi và bình chọn bảng danh sách “Những tác phẩm điện ảnh nước ngoài xuất sắc nhất thập niên 90" 


DANH SÁCH TOP 10: 

1. Cổ Lĩnh Nhai Thiếu Niên Sát Nhân Sự Kiện (1991) 
Đạo diễn: Dương Đức Xương 

2. Unforgiven (1992)
Đạo diễn: Clint Eastwood 

3. Pulp Fiction (1994) 
Đạo diễn: Quentin Tarantino

4. A Phi Chính Truyện (1991)
Đạo diễn: Vương Gia Vệ

5. Underground (1995)
Đạo diễn: Emir Kusturica

6. Thelma and Louise (1991)
Đạo diễn: Ridley Scott

6. Fargo (1996)
Đạo diễn: Joel Coen, Ethan Coen

8. Bá Vương Biệt Cơ (1993)
Đạo diễn: Trần Khải Ca

9. Trùng Khánh Sâm Lâm (1994)
Đạo diễn: Vương Gia Vệ

9. The Shawshank Redemption (1994)
Đạo diễn: Frank Darabont

9. Goodfellas (1990)
Đạo diễn: Martin Scorsese

9. Reservoir Dogs (1992)
Đạo diễn: Quentin Tarantino


Trong "Top 10 phim điện ảnh nước ngoài hay nhất thập niên 90" của Tuần Báo Điện Ảnh có đến bốn phim Hoa ngữ.


《Cổ Lĩnh Nhai Thiếu Niên Sát Nhân Sự Kiện》 (hay A Brighter Summer Day) của đạo diễn Đài Loan Dương Đức Xương giữ vị trí đầu bảng. Phim được cải biên từ một sự kiện giết người có thật từng gây chấn động Đài Loan một thời. Đạo diễn Dương chọn sự kiện này làm điểm khởi đầu để đi vào tái hiện cuộc sống của người dân Đài Loan những năm 50, trầm mặc lặng lẽ đem những bi ai và vĩ đại của một thời đại đầy biến động biểu hiện lên màn ảnh.


Chiếm vị trí thứ 4 《A Phi Chính Truyện》 (hay Days of Being Wild) là một trong những tác phẩm tiêu biểu trứ danh nhất của đạo diễn Hồng Kông Vương Gia Vệ, đồng thời cũng là lần hợp tác kinh điển của Trương Quốc Vinh và Trương Mạn Ngọc. 《A Phi Chính Truyện》 tràn ngập hương vị hoài cổ. Tác phẩm đã khắc họa nội tâm của giới trẻ Hồng Kông thập niên 60 đầy suy tư chống chếnh mê mang suy đồi, lại ẩn chứa nét quyến rũ phi phàm, từng chi tiết nhỏ đều được xử lý đúng chỗ.


《Trùng Khánh Sâm Lâm》 (hay Chungking Express) ở hạng 9 là một tác phẩm khác của đạo diễn Vương Gia Vệ. So với 《A Phi Chính Truyện》 thì 《Trùng Khánh Sâm Lâm》 khác biệt ở chỗ các nhân vật trong phim mỗi người đều sở hữu thế giới nội tại kiềm chế, hết thảy u ám che giấu điểm kỳ quái của cá nhân hòa lẫn chìm khuất giữa lòng không gian đô thị thường ngày. Tác phẩm đã khắc họa nỗi cô độc của nhân loại và cả khát khao ái tình vô cùng tinh tế, bay bổng.


Vị trí thứ 8 thuộc về 《Bá Vương Biệt Cơ》 (hay Farewell My Concubine) - không còn nghi ngờ gì là tác phẩm xuất sắc nhất của đạo diễn Trung Quốc Trần Khải Ca. Sự phức tạp của bộ phim này nằm ở chỗ có thể đem tình tiết lịch sử tình hoài cùng tình cảm cá nhân dung hòa hoàn mỹ thành một tác phẩm kinh điển, khí thế rộng lớn lại tinh tế ôn nhu, là một tác phẩm tuyệt đối không thể xem nhẹ trong lịch sử phim ảnh Trung Quốc.



Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Lược dịch "Nghệ thuật điện ảnh của Vương Gia Vệ", phần riêng về Trương Quốc Vinh

Trích cuốn "The Cinema of Wong Kar Wai" (2016)
Người dịch: Do Hong Diep


Đoạn đối thoại với Vương Gia Vệ:

Xuân Quang Xạ Tiết là bộ phim cuối cùng của anh với Leslie Trương Quốc Vinh, người đã diễn vai chính trong ba trong số những phim hay nhất của anh.

- Tôi ước tôi có nhiều thời gian hơn nữa làm việc cùng anh ấy. Sự hợp tác của chúng tôi đã rất tốt đẹp. Không có anh ấy, bộ phim này đã không thể thực hiện.





Có vẻ như đây là thời điểm thích hợp để nói về cảm nhận tổng quan của anh về Leslie. Những người tôi biết luôn tò mò về anh ấy. Anh nghĩ thế nào về anh ấy ?

- Điều gây ấn tượng nhất với tôi về Leslie là kể từ lần đầu tôi gặp anh ấy, anh ấy đã luôn tự cho mình là một Truyền Kỳ. “Gia Vệ," anh ấy hỏi, "anh có nghĩ rằng tôi là một Truyền Kỳ không ?”. Lúc đầu tôi tưởng anh ấy nói đùa, sau đó mới nhận ra anh ấy thực sự nghĩ vậy. Anh ấy bảo “Đừng gọi tôi là Leslie, hãy gọi tôi là Truyền Kỳ.” (Phá lên cười). Và anh ấy thật sự bị ám ảnh với ý tưởng này. "Tôi sẽ là một Truyền Kỳ," anh ấy nói, "Tôi phải là một Truyền Kỳ". Tôi đã không biết rằng anh ấy sẽ đi xa như vậy khi tự tước đoạt cuộc sống của mình.


Tại sao anh ấy lại muốn trở thành truyền kỳ ?

- Anh ấy luôn muốn mình được mọi người ghi nhớ. Anh ấy bảo với tôi rằng thần tượng lớn nhất của anh là Momoe Yamaguchi. Cô ấy khởi đầu là một thần tượng thiếu niên, và gần như luôn xuất hiện trong các câu chuyện tình yêu lãng mạn. Trong các bộ phim, cô đóng vai nàng Juliet, còn chồng của cô ấy (Tomokazu Miura) là chàng Romeo. Nhưng cô ấy là đại minh tinh, nổi tiếng hơn anh ấy rất nhiều. Rồi khi đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp, cô ấy kết hôn, giải nghệ và không bao giờ quay trở lại - không bao giờ xuất hiện lần nữa trước công chúng. Cô trở thành một người nội trợ và chỉ lo chăm sóc gia đình. Đối với Leslie, đó chính là ý nghĩa của một truyền kỳ. Anh ấy nói, “Tôi sẽ giải nghệ khi ở trên đỉnh cao. Tôi không muốn ở bên kia triền dốc. Tôi không muốn bị già đi.”


Anh ấy vốn đã nổi tiếng khủng khiếp rồi. Tại sao điều đó lại quan trọng với anh ấy đến thế ?

- Leslie không phải người luôn có cảm giác an toàn. Anh ấy cần được yêu thương, cần được chú ý, cần được tán thưởng. Anh ấy cần được ở trong ánh sáng tâm điểm. Anh ấy không có tuổi thơ vất vả, nhưng những năm đầu khởi nghiệp rất khó khăn. Anh ấy đã luôn bị chế giễu và bị từ chối. Anh ấy đã rất buồn vào thời điểm đó.


Nhìn từ bên ngoài, Leslie hiển nhiên là một minh tinh, điều này rõ ràng đến mức không ai là không nhận thấy.

- Anh ấy là người đi trước thời đại của mình một chút. Với công chúng nói chung, thỉnh thoảng họ cho rằng "Anh hơi làm quá rồi đấy". Anh ấy vượt quá giới hạn của họ. Tôi quen biết anh khi anh còn chưa quá nổi tiếng. Hồi ấy anh chủ yếu diễn trong TV show. Như Maggie Trương Mạn Ngọc, anh có thể vừa hiện đại vừa cổ điển. Đó là lý do mà các màn trình diễn của anh lại đa dạng và có dải độ rộng như thế, từ Đông Tà Tây Độc cho tới Bá Vương Biệt Cơ.


Và anh đã tuyển anh ấy vào vai chàng thanh niên Tây hóa trong phim A Phi Chính Truyện - Anh ấy thực sự hoàn hảo cho vai diễn.
Anh ấy rất xuất sắc khi diễn các nhân vật phi luân lý.

- Anh ấy là một người lãng mạn. Nhưng anh ấy cũng suy nghĩ hết sức thấu đáo và luôn quan tâm tới người khác. Thế nên chúng tôi đều rất đau buồn vào cái đêm anh ấy rời bỏ. Tại thời điểm thấp nhất trong sự nghiệp của tôi, sau A Phi Chính Truyện, anh ấy đã luôn ở bên ủng hộ tôi. Được làm việc với anh ấy là một trong những điểm sáng nhất trong sự nghiệp của tôi.









Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

100 phim không nói tiếng Anh hay nhất của BBC - Các tác phẩm lớn Châu Á tập trung ở Hoa ngữ và Nhật Bản

Link tin: bbc.com


Mới đây, đài BBC Anh quốc đã thực hiện bảng danh sách 100 phim không nói tiếng Anh hay nhất mọi thời đại (xét trên phạm vi toàn thế giới, ngoại trừ các vùng sản xuất phim dùng ngôn ngữ tiếng Anh). Bảng danh sách do 209 nhà phê bình đến từ 43 quốc gia và nói 41 ngôn ngữ khác nhau cùng bình chọn qua hình thức mỗi người bỏ phiếu cho 10 bộ phim hay nhất theo thang điểm 1-10. 

Kết quả danh sách: top 100 phim của 67 đạo diễn đến từ 24 quốc gia và được thể hiện bằng 19 ngôn ngữ. Trong đó, nước Pháp - cái nôi của nghệ thuật điện ảnh - là có số lượng phim hay áp đảo nhất với 27 phim, theo sau đó là nền điện ảnh Hoa ngữ với 13 phim, Nhật Bản và Italy cùng đồng hạng với mỗi quốc gia góp mặt 11 phim. 

Rất dễ nhận thấy chiếm đến một phần tư "100 phim hay nhất" là tác phẩm đến từ khu vực Đông Á, trong đó gồm 11 phim Nhật Bản, 5 phim Trung Quốc Đại Lục, 5 phim Đài Loan, 3 phim Hồng Công và 1 phim Hàn Quốc. Điều đặc biệt đáng chú ý là trong top 5 của danh sách có đến 3 phim Nhật Bản lần lượt giữ vị trí 1, 3 và 4. Kiệt tác kinh điển của lịch sử điện ảnh, bộ phim nguyên bản nhất thể loại hành động của đạo diễn Akira Kurosawa - Seven Samurai (1954) đứng ở vị trí đầu tiên. 

Bộ phim Seven Samurai của đạo diễn Akira Kurosawa dẫn đầu danh sách 

Vị đạo diễn được mệnh danh "Hoàng đế" của xứ sở mặt trời mọc có tới 4 tác phẩm nằm trong danh sách bao gồm Rashomon (1950) đứng vị trí thứ 4, Ikiru/To Live (1952) ở vị trí 72 và thứ hạng 79 thuộc về phim Ran (1985). 

Một cảnh trích phim Rashomon của Akira Kurosawa 

Kiệt tác anime của hãng Ghibli Studio với tựa Spirited Away (2001) là phim hoạt hình duy nhất có mặt trong danh sách ở hạng 37.

Vị đạo diễn được mệnh danh "Thiền sư" của điện ảnh Nhật - Yasujiro Ozu có 2 tác phẩm góp mặt là Tokyo Story (1953) hạng 3 và Late Spring (1949) hạng 53. Một tên tuổi đạo diễn tượng đài khác của Nhật là Kenji Mizoguchi có 3 phim: Sansho the Bailiff (1954) hạng 63, Ugetsu (1953) vị trí 68 và The Story of the Last Chrysanthemum (1939) xếp thứ 88. Nhà đạo diễn Mikio Naruse nổi tiếng với tư duy sâu sắc và phong cách phim ảm đạm, bi quan góp một tác phẩm Floating Clouds (1955) hạng 95. 

Phong cách của Yasujiro Ozu đại diện cho tính thuần khiết của điện ảnh 
Ảnh trích phim Tokyo Story 

Tác phẩm ma mị Ugetsu của Kenji Mizoguchi từ lâu đã được công nhận là kiệt tác 

Một cảnh trích phim Floating Clouds của Mikio Naruse

Điện ảnh Hoa ngữ có 13 bộ phim lọt vào danh sách top 100, thuộc tác phẩm của các đạo diễn lớn như Vương Gia Vệ, Trần Khải Ca, Trương Nghệ Mưu, Hầu Hiếu Hiền, Lý An, Dương Đức Xương ... 

Đạo diễn Vương Gia Vệ của Hồng Kông có 3 bộ phim lọt vào danh sách bình chọn, bao gồm: In The Mood For Love (Hoa dạng niên hoa, 2000) hạng 9, Chungking Express (Trùng Khánh sâm lâm, 1994) vị trí 56, và Happy Together (Xuân quang xạ tiết, 1997) ở thứ hạng 71. 

In The Mood For Love của Vương Gia Vệ là biểu tượng của dòng phim lãng mạn 

Một trích ảnh của phim Happy Together 

Vị trí thứ 12 trong danh sách bình chọn thuộc về tác phẩm kinh điển Farewell My Concubine (Bá vương biệt cơ, 1993) của đạo diễn Trần Khải Ca. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu có 2 phim được bình chọn, gồm: To Live (Hoạt trứ, 1994) ở vị trí 41 và Raise The Red Lantern (Đèn lồng đỏ treo cao, 1991) xếp hạng 93. Kiệt tác cổ điển Spring in A Small Town (Tiểu thành chi xuân, 1948) của đạo diễn Phí Mục ở vị trí 63. Và bộ phim In The Heat of The Sun (Dương quang xán lạn đích nhật tử, 1994) của Khương Văn xếp hạng 98. 

Farewell My Concubine của Trần Khải Ca thường xuyên được quốc tế tôn vinh 

Phong cách của Trương Nghệ Mưu nhấn mạnh vào màu sắc
Một cảnh trích phim Raise The Red Lantern

Năm tác phẩm đại diện của Đài Loan đều không xa lạ với giới điện ảnh quốc tế: Hai bộ phim của đạo diễn Lý An là Eat Drink Man Woman (Ẩm thực nam nữ, 1994) xếp hạng 54 và Crouching Tiger, Hidden Dragon (Ngọa hổ tàng long, 2000) xếp hạng 78. Cây đại thụ Hầu Hiếu Hiền cùng bộ phim tiêu biểu của ông A City of Sadness (Bi tình thành thị, 1989) chinh phục vị trí thứ 18. Hai tác phẩm kinh điển của tài năng quá cố Dương Đức Xương là Yi Yi (Nhất Nhất, 2000) và A Brighter Summer Day (Cổ Lĩnh Nhai thiếu niên sát nhân sự kiện, 1991) được lần lượt xếp thứ 25 và 38. 

Cảnh trích từ phim kinh điển đề tài gia đình của Lý An, 
Eat Drink Man Woman

Kiệt tác Yi Yi của Dương Đức Xương luôn có mặt trong top phim hay nhất

Ngoài khu vực Đông Á, điện ảnh Ấn Độ có đại diện là tác phẩm giàu chất thơ Pather Panchali (1955) của tượng đài đạo diễn Satyajit Ray ở hạng 15. Nhà đạo diễn Abbas Kiarostami của Iran cũng có 3 phim Close-Up (1990), Where Is the Friend's Home? (1987) và Taste of Cherry (1997) lần lượt giữ vị trí 39, 94 và 97.

BBC đánh giá, điều đáng tiếc nhất trong danh sách 100 bộ phim nói tiếng nước ngoài hay nhất này là sự thiếu hụt tác phẩm của các nữ đạo diễn, chỉ vỏn vẹn có 4 bộ phim. Tuy nhiên, BBC nhấn mạnh khi mời các nhà phê bình điện ảnh tham gia bình chọn đã cố gắng cân bằng giới tính với 94 nhà phê bình là nữ giới, chiếm 45% danh sách tham gia bình chọn.



DANH SÁCH 100 PHIM KHÔNG NÓI TIẾNG ANH HAY NHẤT MỌI THỜI ĐẠI CỦA BBC: 

1. Seven Samurai (Akira Kurosawa, 1954) 
2. Bicycle Thieves (Vittorio de Sica, 1948) 
3. Tokyo Story (Yasujirô Ozu, 1953) 
4. Rashomon (Akira Kurosawa, 1950) 
5. The Rules of the Game (Jean Renoir, 1939) 
6. Persona (Ingmar Bergman, 1966) 
7. 8 1/2 (Federico Fellini, 1963) 
8. The 400 Blows (François Truffaut, 1959) 
9. In the Mood for Love (Wong Kar-wai, 2000) 
10. La Dolce Vita (Federico Fellini, 1960) 

11. Breathless (Jean-Luc Godard, 1960) 
12. Farewell My Concubine (Chen Kaige, 1993) 
13. M (Fritz Lang, 1931) 
14. Jeanne Dielman, 23 Commerce Quay, 1080 Brussels (Chantal Akerman, 1975) 
15. Pather Panchali (Satyajit Ray, 1955) 
16. Metropolis (Fritz Lang, 1927) 
17. Aguirre, the Wrath of God (Werner Herzog, 1972) 
18. A City of Sadness (Hou Hsiao-hsien, 1989) 
19. The Battle of Algiers (Gillo Pontecorvo, 1966) 
20. The Mirror (Andrei Tarkovsky, 1974) 

21. A Separation (Asghar Farhadi, 2011) 
22. Pan’s Labyrinth (Guillermo del Toro, 2006) 
23. The Passion of Joan of Arc (Carl Theodor Dreyer, 1928) 
24. Battleship Potemkin (Sergei M Eisenstein, 1925) 
25. Yi Yi (Edward Yang, 2000) 
26. Cinema Paradiso (Giuseppe Tornatore, 1988) 
27. The Spirit of the Beehive (Victor Erice, 1973) 
28. Fanny and Alexander (Ingmar Bergman, 1982) 
29. Oldboy (Park Chan-wook, 2003) 
30. The Seventh Seal (Ingmar Bergman, 1957) 

31. The Lives of Others (Florian Henckel von Donnersmarck, 2006) 
32. All About My Mother (Pedro Almodóvar, 1999) 
33. Playtime (Jacques Tati, 1967) 
34. Wings of Desire (Wim Wenders, 1987) 
35. The Leopard (Luchino Visconti, 1963) 
36. La Grande Illusion (Jean Renoir, 1937) 
37. Spirited Away (Hayao Miyazaki, 2001) 
38. A Brighter Summer Day (Edward Yang, 1991) 
39. Close-Up (Abbas Kiarostami, 1990) 
40. Andrei Rublev (Andrei Tarkovsky, 1966) 

41. To Live (Zhang Yimou, 1994) 
42. City of God (Fernando Meirelles, Kátia Lund, 2002) 
43. Beau Travail (Claire Denis, 1999) 
44. Cleo from 5 to 7 (Agnès Varda, 1962) 
45. L’Avventura (Michelangelo Antonioni, 1960) 
46. Children of Paradise (Marcel Carné, 1945) 
47. 4 Months, 3 Weeks and 2 Days (Cristian Mungiu, 2007) 
48. Viridiana (Luis Buñuel, 1961) 
49. Stalker (Andrei Tarkovsky, 1979) 
50. L’Atalante (Jean Vigo, 1934) 

51. The Umbrellas of Cherbourg (Jacques Demy, 1964) 
52. Au Hasard Balthazar (Robert Bresson, 1966) 
53. Late Spring (Yasujirô Ozu, 1949) 
54. Eat Drink Man Woman (Ang Lee, 1994) 
55. Jules and Jim (François Truffaut, 1962) 
56. Chungking Express (Wong Kar-wai, 1994) 
57. Solaris (Andrei Tarkovsky, 1972) 
58. The Earrings of Madame de… (Max Ophüls, 1953) 
59. Come and See (Elem Klimov, 1985) 
60. Contempt (Jean-Luc Godard, 1963) 

61. Sansho the Bailiff (Kenji Mizoguchi, 1954) 
62. Touki Bouki (Djibril Diop Mambéty, 1973) 
63. Spring in a Small Town (Fei Mu, 1948) 
64. Three Colours: Blue (Krzysztof Kieślowski, 1993) 
65. Ordet (Carl Theodor Dreyer, 1955) 
66. Ali: Fear Eats the Soul (Rainer Werner Fassbinder, 1973) 
67. The Exterminating Angel (Luis Buñuel, 1962) 
68. Ugetsu (Kenji Mizoguchi, 1953) 
69. Amour (Michael Haneke, 2012) 
70. L’Eclisse (Michelangelo Antonioni, 1962) 

71. Happy Together (Wong Kar-wai, 1997) 
72. Ikiru (Akira Kurosawa, 1952) 
73. Man with a Movie Camera (Dziga Vertov, 1929) 
74. Pierrot Le Fou (Jean-Luc Godard, 1965) 
75. Belle de Jour (Luis Buñuel, 1967) 
76. Y Tu Mamá También (Alfonso Cuarón, 2001) 
77. The Conformist (Bernardo Bertolucci, 1970) 
78. Crouching Tiger, Hidden Dragon (Ang Lee, 2000) 
79. Ran (Akira Kurosawa, 1985) 
80. The Young and the Damned (Luis Buñuel, 1950) 

81. Celine and Julie go Boating (Jacques Rivette, 1974) 
82. Amélie (Jean-Pierre Jeunet, 2001) 
83. La Strada (Federico Fellini, 1954) 
84. The Discreet Charm of the Bourgeoisie (Luis Buñuel, 1972)
85. Umberto D (Vittorio de Sica, 1952) 
86. La Jetée (Chris Marker, 1962) 
87. The Nights of Cabiria (Federico Fellini, 1957) 
88. The Story of the Last Chrysanthemum (Kenji Mizoguchi, 1939) 
89. Wild Strawberries (Ingmar Bergman, 1957) 
90. Hiroshima Mon Amour (Alain Resnais, 1959) 

91. Rififi (Jules Dassin, 1955) 
92. Scenes from a Marriage (Ingmar Bergman, 1973) 
93. Raise the Red Lantern (Zhang Yimou, 1991 
94. Where Is the Friend's Home? (Abbas Kiarostami, 1987) 
95. Floating Clouds (Mikio Naruse, 1955) 
96. Shoah (Claude Lanzmann, 1985) 
97. Taste of Cherry (Abbas Kiarostami, 1997) 
98. In the Heat of the Sun (Jiang Wen, 1994) 
99. Ashes and Diamonds (Andrzej Wajda, 1958) 
100. Landscape in the Mist (Theo Angelopoulos, 1988) 



Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

Lược dịch "Nghệ thuật điện ảnh của Vương Gia Vệ", phần về Đông Tà Tây Độc

Trích cuốn "The Cinema of Wong Kar Wai" (2016)
Người dịch: Do Hong Diep




Đoạn đối thoại với Vương Gia Vệ:

Với tai tiếng của anh sau A Phi Chính Truyện, làm sao anh tập hợp được dàn diễn viên hùng hậu như vậy?

- Người đầu tiên là Leslie Trương Quốc Vinh. Anh ấy lo lắng cho sự nghiệp của tôi và từng hơn một lần hỏi tôi “Tiếp theo anh sẽ làm gì hả Vệ ?". Khi tôi đề nghị dự án này với anh ấy, tôi nói sẽ thành lập một công ty và muốn anh ấy đóng phim này. Dù anh ấy đã tuyên bố giải nghệ nhưng anh ấy nói “Ok, tôi sẽ làm”. Tiếp theo là Lâm Thanh Hà người rất gần gũi với Trương Thúc Bình (William Chang). Sau đó là hai Tony, Maggie và Jacky ...


Bản đầu tiên của Đông Tà Tây Độc (Ashes of Time) rất khó xem ! Lúc mới ra mắt vào năm 1994, tôi thấy nó rất lẫn lộn. Thời gian nhảy nhót và câu chuyện cũng vậy - các nhân vật, các trường đoạn. Nhưng khi tôi xem bản Redux năm 2008, thì câu chuyện hoàn toàn có lý. 

- Điều đó không làm tôi ngạc nhiên chút nào - anh thực ra vẫn đang xem cùng bộ phim hai lần đó. Anh trưởng thành hơn lần trước, nên anh là một khán giả thích hợp hơn. (Cười). Phản ứng lần đầu cũng dễ hiểu. Đầu tiên nó không giống phim võ hiệp thông thường. Và nếu không biết câu chuyện gốc thì khó lòng theo được phim. Và các nhân vật thì giống nhau - tôi chỉ nhận ra điều này khi hầu hết khán giả phương Tây, gồm cả ban giám khảo đều không thể phân biệt các nhân vật. Vài người thậm chí tưởng tất cả nhân vật nam là một người và nhầm Maggie Trương Mạn Ngọc với các vai nữ khác :v . Họ chẳng hiểu chuyện gì đang diễn ra (cười). 

- Nhưng về mặt cấu trúc, bản Redux hầu như giống bản gốc trừ việc tôi đã thay đổi lại thứ tự một số cảnh. Điều khác biệt lớn nhất là âm thanh và âm nhạc, thứ luôn làm tôi lăn tăn khi bản đầu được công chiếu. Như tôi nói, việc hậu kỳ của Đông Tà Tây Độc khá vội nên hầu hết hiệu ứng âm thanh của phim nghe bí bức như “trong hộp”, và thiếu kinh phí nên Frankie phải soạn bằng nhạc cụ điện tử. Khi tôi xem bộ phim ở Liên hoan phim Venice, tôi cảm thấy nó đáng ra phải tốt hơn. Sự không hoàn hảo đó ám ảnh tôi trong nhiều năm. Tới năm 2008 tôi sửa lại và làm lại toàn bộ phần âm thanh với dàn nhạc và YoYo Ma chơi cello. Cuối cùng thì tôi cũng được giải phóng, và khán giả thì thấy nó có lý hơn.




Anh tung hứng và nhào nặn các nhân vật, như Brigitte Lâm Thanh Hà trong vai một nữ nhân bị đa nhân cách, hay Jacky Trương Học Hữu trong vai Hồng Thất - kẻ ôm giấc mộng hành tẩu giang hồ, rồi sàng lọc các câu chuyện của họ qua tâm trí của Tây Độc do Leslie diễn - một sát thủ cay nghiệt.

- Âu Dương Phong diễn bởi Leslie, là nhân vật yêu thích của tôi trong câu chuyện gốc. Cùng với Hoàng Dược Sư, đây là nhân vật nhiều màu sắc nhất trong truyện. Họ được gọi là Đông Tà và Tây Độc. Cả hai đều bi kịch, nhưng ở hai thái cực. Tây Độc như lửa, còn Đông Tà thì như băng. 

- Đông Tà luôn là nhân vật được yêu thích trong truyện, còn Tây Độc thì mang tiếng xấu và bị hiểu sai. Mọi người thường thấy dấu vết của Shakespeare trong truyện của Kim Dung, còn Âu Dương Phong gợi tôi nhớ tới Vua Lear. Đông Tà cơ bản là một kẻ đạo đức giả độc ác, thích thao túng học trò và làm họ tàn phế ... Tôi tò mò về điều gì đã làm cho những nhân vật này trở nên như vậy. Bằng việc sử dụng Âu Dương Phong làm người kể chuyện, tôi muốn chia sẻ cách hiểu của tôi về các nhân vật này. Tôi muốn có sự công bằng cho Tây Độc ... 

- Khi bộ phim phát hành, khán giả đã sốc. Đó là bộ phim gây tranh cãi nhất trong năm. Kim Dung không hài lòng. Tôi chưa bao giờ gặp ông ấy, nhưng với sự thật là ông ấy không cho tôi quyền sử dụng bất cứ tác phẩm nào khác thì chắc hẳn ông ấy không vui chút nào (cười).




Tôi có thể hiểu tại sao khán giả không thích bộ phim.

- Dĩ nhiên rồi, cái họ muốn xem là câu chuyện gốc. Khác với tất cả các version trước, bộ phim thực tế kể về tình yêu dưới dạng sử thi võ hiệp, theo mốc thời gian âm lịch. Âu Dương Phong tưởng anh ta bị người đàn bà mình yêu từ chối, Hoàng Dược Sư bị từ chối bởi người đàn bà đó, kiếm sĩ mù tự vẫn vì bị vợ phản bội, và công chúa Mộ Dung bị chứng tâm thần phân liệt khi bị từ chối tình yêu. Khi câu chuyện tiến triển xa hơn, sự rối rắm được gỡ dần như vòng xoáy trôn ốc. Ngoại lệ duy nhất là Hồng Thất, người lúc đầu từ chối vợ và sau đó thì nhận ra tốt nhất là vừa làm kiếm khách giỏi nhất vừa làm một người chồng tốt. Khi Âu Dương Phong cuối cùng nhận ra cái gọi là "sự từ chối tình yêu" chỉ là ảo ảnh của riêng hắn thì hắn liền được giải thoát.

- Có một chuyện trong quá trình làm phim. Đó là ngày cuối cùng ở sa mạc, tại cảnh quay cuối: Chúng tôi phải đốt căn lều của Leslie trước bình minh và quay lúc rạng sáng. Vì phải mất cả tiếng để tới được địa điểm, còn phải lắp đặt 3 camera nên chúng tôi phải khởi hành vào lúc 3am. Đêm đó lại có bữa tiệc chia tay chủ nhà, có thịt cừu và vodka, lúc đó rất cảm động. Sau đó Chris Doyle say khướt. Phải lôi anh ấy dậy, rửa ráy và đặt vào xe. Anh ấy cần quay máy số 3, nhưng anh ấy cứ chực ngã, bị camera đập vào trán. Anh ấy cứ bảo không sao. Chúng tôi đổ hết xăng ra, Leslie sẵn sàng, bắt đầu quay. Sau đó Chris bảo phải đi ... và chạy vào bụi rậm, rồi nhanh chóng quay lại. Rồi anh ấy nói sẽ quay máy C, vốn dễ hơn máy A, vốn để quay cận cảnh Leslie. Nên chúng tôi đặt anh lên trục này, và anh ấy bị trượt thẳng vào đám cháy :v . Đúng là một thảm họa ! Camera này không bắt được đại cảnh vì anh ấy gần đám cháy quá. Lúc này đã sáng mất rồi. Tôi rất bực mình và Chris cũng thế. Anh ấy cảm thấy tội lỗi. Chris bất thình lình cởi hết quần áo, nhúng người vào nước và túm lấy camera chạy thẳng vào đám cháy. “Tôi nhất định phải quay được gì đó”. Thế là anh ấy ở đó, vẫn say rượu, trần như nhộng trước cả đoàn phim (cười).


Ai là người hùng thực sự của phim ?

- Không có người chiến thắng ở đây. Tất cả đều nằm trong lời nguyền của không gian và thời gian của họ. Thứ duy nhất không đổi là sa mạc. Họ chỉ là hành khách.


Khá buồn cười là trong khi phương Tây thường không coi nó là bộ phim điển hình của anh thì khán giả Hoa ngữ, như bên Singapore, lại thích bộ phim. Anh có vui về điều này?

- Một số người có thể thấy nó giống phim triết học. Nhưng thực ra Đông Tà Tây Độc là bộ phim hoàn chỉnh và cấu trúc tốt nhất của tôi. Bộ phim này chính là từ điển võ hiệp của tôi ...


**************

Lời của tác giả John Powers về bộ phim:

Trong các phim của Vương Gia Vệ, Đông Tà Tây Độc (Ashes of Time) luôn là kẻ ngoài lề. Mặc dù mục đích ban đầu là để cứu vãn sự nghiệp cá nhân gần như bị phá hủy sau A Phi Chính Truyện (Days of Being Wild), nhưng bộ phim lại hoàn toàn không giống gì với một sản phẩm thương mại. Khi version đầu tiên được ra mắt năm 1994, bộ phim được coi là một sự điên rồ mê hoặc, một tập hợp các bức ảnh đẹp đẽ. Tôi đến xem một trong những buổi chiếu đầu tiên, và ra về với cảm giác vừa sững sờ vừa lạc lối (đa phần khán giả cảm thấy lạc lối và bực mình). Tiếng là một bộ phim võ hiệp, gồm toàn những ngôi sao lớn, nó lại gần như một thể loại không thể chiếu ở rạp, hiển nhiên vi phạm lời khuyên khôi hài của Robert Bresson “Hãy giấu các ý tưởng của bạn nhưng đừng quá kỹ khiến không ai tìm ra được”. Dù bộ phim là một trong các tác phẩm được yêu thích nhất của Vương trong khối nói tiếng Quan Thoại và không thiếu những lời ngợi khen (Wilmal Dissanayake từng viết hẳn một quyển sách “hại não” về nó), nó lại không được ưa thích ở Hong Kong và Đông Nam Á. Tệ hơn, nó bị phương Tây - nơi vốn coi Vương là ông trùm lừng lẫy của những câu chuyện lãng mạn trẻ trung - lờ đi hoàn toàn mà không để ý rằng đây là một tác phẩm độc đáo khác biệt. Chính Vương cũng không hài lòng với bộ phim, và cứ tiếp tục sửa nó cho đến 2008 ông phát hành bản Redux. Bản mới này ít thách thức và dễ hiểu hơn. Dù là bản nào thì đây cũng là bộ phim mạnh mẽ và phức tạp nhất của ông, một chuẩn mực mới trong lịch sử phim võ hiệp.


Phim bắt nguồn từ bộ tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của nhà văn Kim Dung ... Thay vì kể câu chuyện về hai nhân vật quan trọng nhất là người tốt Hoàng Dược Sư và người xấu Âu Dương Phong như trong truyện gốc, ông kể về thời tuổi trẻ của họ, với cái nhìn thông cảm hơn dành cho Âu Dương Phong và giảm bớt sự tập trung vào người hùng.

Leslie trong vai Âu Dương Phong, một bậc thầy võ hiệp đang âm thầm nhỏ lệ khi đánh mất tình yêu đích thực của mình, do nỗi sợ người yêu sẽ từ chối mình. Anh ta sống trong một căn lều giữa sa mạc Gobi, nơi anh ta thu xếp các vụ giết thuê vì tiền - cuộc đời anh ta hỏng bét. Xuyên suốt phim, nhiều nam nhân và nữ nhân đã đến thăm anh ta, ai cũng có một câu chuyện riêng: Hoàng Dược Sư - kẻ vốn đào hoa đa tình đã uống cạn bình rượu lãng quên túy mộng tửu, Mộ Dung Yên/Yến là một triết gia-kiếm khách đa nhân cách, một kiếm khách mù muốn tự sát vì vợ anh ta yêu Hoàng Dược Sư, và Hồng Thất Công - một hiệp khách lạc quan đã xả thân chiến đấu không phải vì tiền mà vì sự bất bình với lối sống của Âu Dương Phong. Dù không liên quan đến nhau, họ đều là những người bị cầm tù và chi phối bởi sự ám ảnh thiêu đốt trái tim họ: dục vọng, chối bỏ và phản bội. Dù cho Âu Dương Phong tâm sự với chúng ta qua giọng độc thoại bí ẩn, sắc sảo của anh ta thì chính anh ta cũng bị cầm tù trong sự tự dối gạt của nỗi ám ảnh riêng mình.


Một nghịch lý của tác phẩm này là nó vừa nhục cảm lại vừa trừu tượng. Dù rất ít cảnh võ thuật, nhưng ít có phim nào lại hấp dẫn về mặt hình ảnh như Đông Tà Tây Độc, như hiệu ứng ánh sáng qua chiếc lồng chim khi Mộ Dung Yến tới gặp Âu Dương Phong. Vẻ đẹp của nó làm lóa mắt người xem, nhưng đừng quên rằng chúng ta thực sự đang nhìn ngắm những con chim trong chiếc lồng lớn. Vì tất cả sự đắm say khao khát của họ, họ bị cầm tù không chỉ bởi chiếc lồng. Hầu như tất cả các truyền thuyết võ lâm đều kể về sự chiến thắng của người anh hùng, nhưng ở đây là sự chiến thắng của một mảnh đất cằn khô bị bùa mê giăng mắc. Không gian này đã tồn tại từ trước Âu Dương Phong và các nhân vật, và nó tồn tại vĩnh hằng ở đó, con người chỉ lướt qua mà thôi ... 




Thứ Hai, 24 tháng 9, 2018

[Vietsub] BUENOS AIRES ZERO DEGREE - Phim tài liệu quá trình làm phim Happy Together



Phim tài liệu Buenos Aires Zero Degree do hãng Jet Tone Productions phát hành, tái hiện lại 4 tháng của đạo diễn Vương Gia Vệ cùng đoàn phim tại đất nước Argentina để ghi hình cho bộ phim Happy Together (Xuân Quang Xạ Tiết). Vào tháng 8 năm 1996, Vương đặt chân đến "vùng đất phía bên kia thế giới", hành trang chuẩn bị của ông không có gì dù chỉ là một mảnh giấy kịch bản, gần như lạc lối trong một miền ngôn ngữ bản địa xa lạ, không có gì quen thuộc ngoài những giai điệu tango mà Vương có thể nhận ra phảng phất quanh thành phố ...


Buenos Aires Zero Degree cung cấp một cái nhìn sâu hơn về quá trình làm phim Happy Together, bao gồm những chia sẻ của thành viên ekip, những cảnh hậu trường Leslie Trương Quốc Vinh + Tony Lương Triều Vỹ học nhảy tango, các đoạn đối thoại của Vương Gia Vệ và nhà quay phim Christopher Doyle, những cảnh phim bị cắt bỏ chưa từng được công bố trước đó ... 


Năm phát hành: 1999 
Công ty sản xuất: Jet Tone Productions 
Đạo diễn: Amos Lee, Kwan Pun Leung 
Nhà sản xuất: Chan Ye-Cheng, Jimmy Ngai 
Quay phim: Christopher Doyle 


Thực hiện Vietsub: Khue Nguyen

Lược dịch "Nghệ thuật điện ảnh của Vương Gia Vệ", phần về Xuân Quang Xạ Tiết

Trích cuốn "The Cinema of Wong Kar Wai" (2016)
Người dịch: Do Hong Diep


Khi bộ phim Xuân Quang Xạ Tiết (Happy Together) được công chiếu ở Liên hoan phim Cannes tháng 5/1997, hầu hết các thảo luận đều xoay quanh yếu tố đồng tính. Ra đời trước Brokeback Mountain gần cả thập kỷ, Xuân Quang Xạ Tiết không chỉ là phim về người đồng tính Trung Hoa đầu tiên người phương Tây được xem, mà sức hấp dẫn còn ở hai diễn viên chính, Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) và Lương Triều Vỹ (Tony Leung Chiu-wai) - hai ngôi sao lớn nhất của châu Á (hãy thử tưởng tượng ảnh hưởng đối với nước Mỹ sẽ thế nào nếu Brad Pitt nằm chồng lên Tom Cruise trong Interview with the Vampire) . Vương Gia Vệ hẳn nhiên nhận thức rõ ràng được giá trị quảng cáo của cặp đôi này. Ông đã tổ chức họp báo về bộ phim bằng cảnh Trương và Lương cùng nhảy tango... Rất nhiều bạn thân và cộng sự lâu năm của Vương là người đồng tính, và họ sẽ bảo với bạn rằng họ luôn cảm thấy thoải mái khi làm việc với ông vì ông hoàn toàn thoải mái với họ. 


Xuân Quang Xạ Tiết là một câu chuyện lãng mạn buồn khác của Vương Gia Vệ. Nó tập trung vào mối quan hệ không hạnh phúc giữa Lê Diệu Huy tỉnh táo, đặc biệt tử tế (dù không phải luôn như vậy) và Hà Bảo Vinh quyến rũ và không đáng tin cậy, người luôn phản bội Lê Diệu Huy rồi lại nói “Chúng ta bắt đầu lại từ đầu đi”. Dù hiển nhiên họ có sức hút về dục tính với nhau, nhưng họ không thể đi đến đâu cả ... 

Dù có rất nhiều ứng cử viên thì Xuân Quang Xạ Tiết dễ dàng là tác phẩm kích thích thị giác nhất của Vương, từ chiếc giường tí tẹo/chiến trường trong căn hộ của Diệu Huy tới âm vang mạnh mẽ của thác nước Iguaza quay từ chiếc trực thăng. Mọi nỗ lực gian khổ đã được đền bù xứng đáng bằng những thước phim tinh tế đặc biệt trong cả bộ phim. 

Leslie Trương Quốc Vinh khó có thể diễn hay hơn nữa trong vai Hà Bảo Vinh tính khí thất thường, khắc họa cả vẻ quyến rũ khó nắm bắt khiến cho anh ta rất lôi cuốn - anh ta là một kẻ tán tỉnh tài ba và có sức quyến rũ thiên bẩm - và cả tính bốc đồng thiếu thận trọng khiến anh ta trở nên nguy hiểm với tất cả mọi người, bao gồm chính bản thân anh ta. 

Trong vai diễn lớn đầu tiên này, Tony Lương Triều Vỹ càng tuyệt vời chẳng kém trong vai Lê Diệu Huy. Diễn xuất của anh là từ điển về những cái nhìn bí ẩn đưa chúng ta đi sâu hơn bất cứ vai nào mà anh ấy và Vương đã tạo ra... Dù là một người dị tính, Lương được khen ngợi vì đã diễn vai đồng tính, với những cảnh đòi hỏi nhiều hơn mức dũng cảm thông thường. Từ lúc này Lương được biết đến là một diễn viên với những cảm xúc sâu và thấm thía ... 





Đoạn đối thoại với Vương Gia Vệ: 

Vương Gia Vệ: Với Xuân Quang Xạ Tiết, chúng ta phải quay lại thời điểm năm 1997. Những ngày đó, mọi người đều lo lắng về cuộc sống sau khi Hong Kong chuyển giao trở về cho Trung Quốc ... Tôi cảm thấy tôi nên làm một bộ phim, về điều này, một câu chuyện về việc bị chối bỏ khi bạn mong được tiếp nhận. Một bộ phim về một mối quan hệ không được chấp nhận, có lẽ là một phim đồng tính. Nên tôi gặp Leslie và nói “Hãy làm một phim đồng tính” và anh ấy bảo “Tại sao không”. Tôi hỏi “Anh chắc chứ”, anh ấy đáp “Ừ, với anh thì tôi chắc. Và ai đóng cặp với tôi?” “Tony” “Tốt”. 


Leslie hiển nhiên tin tưởng anh. 

- Vâng dĩ nhiên. Đó là điều anh ấy đã muốn làm từ lâu mà chưa tìm được cơ hội thích hợp. Anh ấy cũng có cảm giác cần thiết như chúng tôi. Đây có vẻ là thời điểm thích hợp. Anh ấy tin tưởng đội ngũ của tôi và tin chúng tôi sẽ không làm gì lạm dụng. 


Dù sao, Leslie cũng là người đồng tính và anh biết anh ấy sẽ không thấy thiếu thoải mái đóng vai này. Thế Tony thì sao ?

- Anh ấy nói “Nhân vật của tôi đồng tính ?”. Tôi bảo “Đúng” và anh ấy nói anh ấy sẽ làm. Tôi hỏi liệu anh có chắc ko và anh đáp “Anh không bắt tôi đóng cảnh yêu đương đấy chứ ?”. Tôi bảo sẽ không có cảnh yêu đương. Và bộ phim sẽ quay ở Argentina. Anh ấy bị kích thích vì điều đó và lại hỏi “Anh chắc chắn sẽ không có cảnh trần trụi chứ ?”. Tôi nói với anh sẽ có cảnh khiêu vũ vì Argentina nổi tiếng về điệu tango. Và anh nói OK. Nên chúng tôi họp báo, chụp ảnh và nó là một tin lớn: Leslie và Tony trong một phim đồng tính. Và thế là chúng tôi lên đường. 




Lúc đó, anh đã có câu chuyện của anh chưa? 

- Để làm một bộ phim thể loại hành trình (Road movie) điều đầu tiên anh cần là một cái bản đồ. Tôi mất nhiều ngày tham quan thành phố. Trong lúc đó Tony và Leslie học nhảy tango. Cùng lúc Tony học tango thì tôi bảo anh ấy “Anh sẽ phải cởi quần áo nên cơ thể anh trông phải đẹp” . Anh ấy đã luyện tập tích cực. Rồi Leslie bị nhiễm amoeba nên bị ốm nặng, Tony là người đã nấu cho anh ấy ăn hàng ngày. Nhưng bạn có thể cảm thấy Tony căng thẳng “Tôi đang làm gì ở đây ?” Anh ấy không biết phải diễn thế nào. Anh ấy không ngủ được, và tôi có thể thấy điều ấy. 

Sau đó, tôi thấy các bức ảnh về mối quan hệ không hạnh phúc của Nan Goldin. Tôi nói “Tôi muốn bắt đầu phim thế này, với một cảnh yêu đương. Đây là căn phòng họ quan hệ với nhau, hai chiếc giường với ánh sáng tối thiểu. Tôi không có chi tiết, nhưng chúng ta phải làm điều này vì tôi muốn biết Tony có thể làm không hay anh ta sẽ bỏ cuộc.” Tôi muốn mở màn bộ phim khi hai nhân vật gần gũi nhau nhất và từ đó họ ngày càng xa nhau. Tôi phải chắc chắn Tony có thể làm được không. Đây chính là điểm quyết định. 


Và Tony không biết làm thế nào. 

- Tôi sắp đặt khung cảnh. (Cười khúc khích). Và Tony tái xanh mặt. Từ đầu anh ấy đã không nghĩ sẽ có cảnh này. Bây giờ, cũng như trong các phim của tôi, tôi sẽ làm cái tôi muốn. Với cảnh yêu đương trong 2046 tôi trao đổi với trợ lý cảnh này sẽ tiến xa đến đâu. Với cảnh quay này trong Xuân Quang, tôi nói tôi sẽ phó mặc nó cho William (Trương Thúc Bình - thiết kế mỹ thuật) và Leslie tùy cơ ứng biến. Chẳng ai biết phải làm thế nào. Nên tôi sắp máy quay, Chris Doyle chỉnh ánh sáng, Tony thì ngồi đó với cái khăn tắm, nhìn chằm chằm vào Leslie. 


Leslie cởi khăn tắm ra và nói “Thôi nào”. Đây chính là thời điểm và nó thực sự về việc ai ở trên. Vì tôi cũng chưa bao giờ nói ai ở trên. Sau đó Leslie nằm xuống giường - thế là điều đó rõ ràng. Tony nói OK, bắt đầu thôi. Tony cởi chiếc khăn tắm, nhưng vẫn mặc bộ đồ lót. Tôi nghĩ anh ấy nên cởi nó ra, nhưng Tony từ chối và nói đó là giới hạn của anh ấy... (ở một đoạn khác trong cuốn sách, Tony đã nói rằng việc không chịu khỏa thân trong cảnh này là sự hối tiếc lớn nhất đời anh)




- Với một đội ngũ thế này tôi không lo về việc có thể hoàn thành bộ phim mà vấn đề là nó sẽ hay đến mức nào... Khi anh có 50 người mắc kẹt cùng anh ở một đất nước xa lạ, và họ không thể làm gì ngoài việc chờ anh, đó là một thứ cảm giác hoàn toàn mới lạ. Tôi cảm thấy đầy trách nhiệm. Mấy ngày đầu, mọi người vui vẻ vì rượu vang thì rẻ và bít tết rất ngon. Đêm nào cũng tiệc tùng. Sau hai tháng thì họ mệt mỏi và tự hỏi mình đang làm gì ở đây. Mai chúng ta sẽ quay cái gì... 


Nhưng cuối cùng anh vẫn quay xong các cảnh với Tony và Leslie mà ? 

- Vâng, và Chris đã quay nhiều tuần trên phố 9 Julio Avenue. 


Đến khi nào thì anh cảm thấy anh nắm bắt được câu chuyện ? 

- Khi Leslie nói “Tôi không thể ở tiếp” (thời điểm đó, Leslie đang thực hiện World Tour 1997). Điều đó làm thu hẹp lại các khả năng. Tôi biết bộ phim sẽ nghiêng về tuyến vai của Tony nhiều hơn. Có những lúc Leslie nói về khả năng quay lại, nhưng sau đó lại nói “Tôi không thể rồi, vì đây là tour nhạc vòng quanh thế giới”. Điều đó nghĩa là chúng tôi phải cắt bớt tuyến vai của anh ấy... Nên tôi tranh thủ quay các cảnh của Leslie nhiều nhất có thể. Vào ngày cuối cùng, tôi quay cảnh anh ấy khóc khi nhận ra Tony đã bỏ đi. Vào lúc đó, tôi đã chắc Tony sẽ là người duy nhất đứng ở thác nước. Và tôi phải nghĩ tiếp các phần còn lại trước khi anh ấy tới đó... 


Với Tony, đó là vai diễn tốt nhất của anh ấy tính tới thời điểm đó. 

- Trước phim này, Tony có thể đóng hầu hết các vai như những người khác, nhưng trong Xuân Quang Xạ Tiết, anh ấy “nguyên thủy” nhất. Bộ phim được đo ni đóng giày cho anh ấy. Và Leslie đã giúp đỡ rất nhiều bằng cách giả như là Lưu Gia Linh (vợ anh ấy). Leslie nói “Tôi chỉ bắt chước Carina để Tony biết phải làm gì” . Leslie thật tử tế.