Tìm kiếm bài trong Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn hoa thủy tiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoa thủy tiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Rũ bỏ, bị rũ bỏ ... Cuộc đời trên màn bạc của Trương Quốc Vinh (phần 2)

Xem lại phần 1 >>>> Rũ bỏ, bị rũ bỏ ... Cuộc đời trên màn bạc của Trương Quốc Vinh

Tuyển tập ACMI, phần "Philippa Hawker - Abandon, Abandoned...the Screen Life of Leslie Cheung".
Dịch bởi: heobeo @ dienanh.net
Xin cảm ơn nguồn tư liệu của Boulevard_of_Broken_Dreams

...


Trong phim Happy Together (Xuân quang xạ tiết – 1997) của Vương Gia Vệ - một tác phẩm vừa bầu bạn vừa tương phản mạnh mẽ với Days of Being Wild – Leslie lại thủ diễn một nhân vật thường xuyên rời bỏ khuôn hình. Anh là Hà Bảo Vinh, người yêu của Lê Diệu Huy (Lương Triều Vỹ), kẻ sở hữu những đoạn thoại ngoài hình lác đác ghi lại dòng sử biên niên của câu chuyện tình: hai con người yêu nhau rời khỏi Hong Kong đi chu du cùng nhau, và thường xuyên chia lìa, mất niềm tin vào nhau. Cũng như Yuddy với “một phút tình bạn” ngọt ngào anh đã đem tới cho Tô Lệ Trân, Hà Bảo Vinh có một câu nói thường làm dấu cho điểm kết thúc và khởi đầu của một mối quan hệ: “Chúng ta bắt đầu lại đi” dành cho Lê Diệu Huy chịu đựng. Nông nổi, dễ vỡ, hay thoái thác – và bị đánh bầm dập bởi những kẻ côn đồ anh giao du trên phố, với đôi bàn tay băng kín – anh dường như muốn lảng tránh người tình và cả chiếc camera, nhưng anh cũng có khoảnh khắc mất mát đau thương của riêng anh, vỡ vụn trong nước mắt, cuộn mình trong tấm chăn, giữa căn phòng mà anh và Lê Diệu Huy từng chung sống. Và tại cuối phim, người tình và chiếc camera đều bỏ rơi anh: anh bị rũ bỏ bởi bộ phim, bơ vơ ở lại xứ Argentina, theo nghĩa nào đó đã biến mất trong khi các nhân vật khác vẫn dấn tới, đi đến những mảnh đất xa xôi hơn, và tìm kế hoạch quay trở về.



Trong thiên sử thi Farewell My Concubine (Bá vương biệt cơ – 1993) của Trần Khải Ca, một tác phẩm nhận về sự tán thưởng của quốc tế và thắng giải Cành Cọ Vàng tại LHP Cannes, anh diễn một hình tượng hoàn toàn được định nghĩa bởi trí tưởng tượng và diễn xuất. Leslie là Trình Điệp Y, từ thuở nhỏ đã được một gánh hát nhận nuôi và đào tạo thành kép hát. Trong quá trình luyện tập cho vai diễn của cuộc đời mình, người ái thiếp trung trinh Ngu Cơ trong tấn tuồng cùng tên với bộ phim, anh đã bị giày vò và đánh đập. Ngu Cơ vốn là phi tần được sủng ái của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ, trước tàn cuộc giao tranh Hán-Sở nàng đã nhất quyết không rời vị quân vương thất thế của mình, còn ca múa cho ngài xem rồi quyên sinh bằng kiếm. Khi còn thơ trẻ (giai đoạn này do hai diễn viên nhí đóng) Điệp Y đã bị ép buộc chấp nhận vai diễn, nhưng rồi anh không chỉ chấp nhận, anh tôn thờ và nâng niu nó. “Chẳng phải là anh ấy đã xóa nhòa ranh giới giữa sân khấu và cuộc đời, giữa đàn ông và đàn bà ?”, một kẻ ái mộ trong phim đã thốt ra như vậy, gần như thâu tóm sự phức tạp của cuộc đời Điệp Y, chung thân sống trong kịch, hay như thể trong kịch. Ngay cả khi lời tán dương ấy cũng nào hiểu được sự ngầm ý của nó.


Bộ phim dõi theo Trình Điệp Y và người bạn diễn Đoàn Tiểu Lâu từ khi còn là hai đứa trẻ cho đến khi trưởng thành, trải qua những cơn biến can qua của lịch sử và những bước thăng trầm của nghệ thuật, bị giằng xé giữa niềm đam mê các giá trị truyền thống Trung Hoa và làn sóng bạo động đả phá chế độ cũ của giai đoạn mới. Trình Điệp Y, kẻ đã cống hiến trọn vẹn cho tình yêu nghệ thuật và vị sư huynh, luôn luôn xuất hiện đường hoàng như ái phi Ngu Cơ qua một thần thái nào đấy: là khi biểu diễn trên sân khấu, khi chuẩn bị điểm trang nơi hậu trường, trong trang phục lộng lẫy văn hoa, qua lớp mặt nạ hoàn toàn hay chỉ nửa phần xoa phấn. Trong những khoảnh khắc biến đổi và chuyển tiếp ấy, Điệp Y không chỉ diễn vai ái phi mà anh đã trở thành hiện thân của nàng, anh đưa nàng trở về nhân thế, vượt xa khỏi ngưỡng giới hữu hạn của kịch. Màn trình diễn của Leslie trong phim này là tuyệt đẹp, và làm suy kiệt người xem, một hành trình khám phá của sự hoán xương đổi cốt, và từ chối thôi mộng: những cử động, sóng mắt, môi cười của ái phi … như thấm đượm hàng trăm năm khuôn thước người xưa, và chúng chi phối vào hành vi, thái độ, biểu cảm của nhân vật ngay cả khi anh đã rời sân khấu. Điều này cũng khiến cho những khoảnh khắc bùng nổ dữ dội hiếm hoi của anh, những giây phút tuyệt vọng, và những cơn mê loạn – tất cả đều sở hữu một uy lực thuyết phục khác thường: khi anh giận dữ và tha thiết khăng khăng rằng anh không muốn bị chia lìa với Đoàn Tiểu Lâu dù chỉ là một ngày một phút một giây; khi anh lao lên những bậc thang vào đúng lúc Tiểu Lâu vừa thoát nạn, những chuyển động của anh khẩn trương và hối hả. Trong những khoảnh khắc ấy, anh cũng đã bỏ qua tấm áo choàng và thoát ra khỏi “cá tính nhân vật”, hành động theo đúng bản thân anh hơn là nhân vật anh diễn, song cũng rất sớm sau đấy anh lĩnh hội được lợi thế của vai diễn, là khi hiền thê của Đoàn Tiểu Lâu đến tìm anh xin giúp đỡ. Anh nhanh chóng quay trở lại điệu bộ của nhân vật, cao giọng “ngả giá” điều kiện với đối phương.


Trình Điệp Y là một vai diễn khó và khắt khe, đòi hỏi anh phải dành ra hàng tháng trời theo học nghệ thuật biểu diễn Kinh kịch. Đó là một hình mẫu chẳng giống ai, một vai diễn dường như không mở ra thêm cánh cửa nào cho anh, ngay cả khi bộ phim đã được hoan nghênh dồn dập trên trường quốc tế và nhận về giải thưởng Phim Hay Nhất tại Cannes, bên cạnh tác phẩm The Piano. Trên thực tế, màn diễn xuất của anh thường xuyên bị coi nhẹ, bị nhập vào với thành công của bộ phim – nó rất xuất sắc, trông như thể chẳng cần nỗ lực mà tự nhiên vẫn biểu hiện nên những đặc trưng, sức nặng tâm lý của nhân vật và cả vấn đề giới tính, gần như nó không thể lưu vào quan điểm của khán giả rằng đấy là thành quả của một diễn viên/ca sĩ chuyên hát nhạc phổ thông.


Anh thường xuyên diễn các nhân vật chỉ yêu bản thân, đạo diễn Quan Cẩm Bằng từng nhận xét như thế về anh trong bộ phim tài liệu Yang ± Yin (Nam sanh nữ tương). Điều đó có phản ảnh đúng con người anh không ? Vâng, dĩ nhiên rồi – Leslie đã cười trả lời. Trong rất nhiều các vai diễn của anh, suy cho cùng, có một lượng lớn phân cảnh anh đứng ngắm mình trước tấm gương, thường xuyên có một sự tự mãn với những gì mà gương soi phản chiếu. Nhưng, ngay cả khi Leslie đã chấp nhận, vẫn tồn tại một nguy cơ cho chúng ta khi muốn nhấn vào chất Narcissus (Hoa thủy tiên) của anh, một hình tượng bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp về một chàng trai đẹp bị lạc lối trong hoan lạc của bản thân khi nhìn ngắm bóng hình mình in trên mặt gương hồ, vẻ duyên dáng của chàng quyến rũ khắp thế gian – một trong số đấy là nàng tiên Echo*, lời bày tỏ tình cảm tuyệt vọng của nàng không được hồi đáp, cứ lặp đi lặp lại cho đến khi chẳng còn là gì ngoài những âm vang* vô hình.



Leslie có lẽ là hiện thân của một cái đẹp hững hờ tự đam mê nào đó, một mối nhục cảm mơ hồ và lấn lướt nguy hiểm đi cùng với chất tổn thương mong manh, và những mất mát. Nhưng các bạn diễn và đạo diễn từng hợp tác với anh đều quý trọng sự chăm chỉ của anh, sự cống hiến của anh, cách anh tỷ mỷ chú tâm vào những chi tiết, lòng nhiệt thành của anh dành cho các kỹ thuật và đặc biệt là cho công việc làm phim. Maggie Cheung Trương Mạn Ngọc, trong một bài viết tưởng nhớ Leslie đăng trên tờ Cahiers du Cinema (Pháp), đã nhớ lại một cảnh quay cuối cùng trong đêm của bộ phim Days of Being Wild. Nhân vật của cô đến nhà của Yuddy – một gã trai “hoa thủy tiên”, kẻ đã làm tan nát trái tim cô gái - để lấy lại vật dụng cá nhân. Đó là một ngày làm việc dài, và như lời cô miêu tả, tất cả mọi người đều đã kiệt sức. Và đấy là một cảnh quay được dàn dựng đặc biệt – ống kính camera luôn dõi theo cô và những gì có thể thấy được chỉ là tấm lưng của Leslie – cô đã chú ý Leslie đang rất cẩn thận diễn tập, đang cố gắng để hoàn thiện một hiệu ứng nào đấy: là âm thanh những bước chân của anh trong cảnh phim.

Days of Being Wild là một trong những phim Hong Kong đầu tiên được thâu thanh trực tiếp, và Leslie đã ý thức rất rõ về vấn đề kỹ thuật này. Sự nhập tâm của anh dành cho vai diễn và dự án, tỷ mỷ cho từng chi tiết lọt vào tai nghe đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng cô, Maggie nói vậy. Đây thật sự là một mẩu chuyện gây cảm động khi một người nghệ sĩ trình diễn ý thức về mọi phương diện cần thiết cho màn diễn xuất của mình: từ những thứ hữu hình cho đến thứ vô hình, từ sự thoát thai cho đến cái trần tục. Một người đàn ông có thể hóa thân thành một Narcissus, và đã làm điều này hoàn hảo đến mức ám ảnh; cũng có thể là một người đàn ông đã chịu khó tập luyện, với sự quan tâm cần mẫn, cho tiếng vọng* từ những bước chân mình.


Hết.


Chú thích:

- Narcissus: có nghĩa là "hoa thủy tiên", cũng là tên của một chàng trai trong Thần thoại Hy Lạp từ chối tình yêu với tiên nữ Echo, sau vì quá say mê với bóng ảnh xinh đẹp của mình mà gục chết bên bờ hồ biến thành loài hoa thơm ngát.

- Echo: có nghĩa là "âm vang, tiếng vọng", cũng là tên của tiên nữ từng có biệt tài kể chuyện và biện minh nhưng bị cướp đi khả năng mở lời trước. Nàng phải lòng chàng Narcissus nhưng không thể nói chuyện với chàng, bị chàng lạnh lùng cự tuyệt. Quá đau khổ và hổ thẹn nàng trốn vào rừng thẳm, sống trong hang và trên những vách núi cao, đi theo muôn thú và con người để bắt chước lại những âm thanh họ tạo ra, trở thành Nữ thần tiếng vang.

* : Nguyên văn trong bài viết, các chữ này đều dùng chung một từ là "echo" .


Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Rũ bỏ, bị rũ bỏ ... Cuộc đời trên màn bạc của Trương Quốc Vinh

Tuyển tập ACMI, phần "Philippa Hawker - Abandon, Abandoned...the Screen Life of Leslie Cheung".
Dịch bởi: heobeo @ dienanh.net
Xin cảm ơn nguồn tư liệu của Boulevard_of_Broken_Dreams


Leslie có một phẩm chất ngôi sao dường như đến từ thời đại khác. Anh được so sánh là tương đồng với James Dean và Montgomery Clift – những nghệ sĩ trình diễn cùng lúc vừa phá bỏ vừa sáng tạo lại khái niệm thế nào là một nam diễn viên, và đem tới một hình tượng nam nhân khác biệt cho màn ảnh. Trong rất nhiều những vai diễn xuất sắc nhất của anh, anh cũng đồng thời là một nam diễn viên tương tác: các màn trình diễn của anh có thể mạnh mẽ, uy lực, đáng nhớ nhưng chúng còn giúp tạo điểm nhấn cho các bạn diễn. Anh kiếm tìm thử thách cùng hình tượng nhập nhằng về giới và những khát vọng mơ hồ qua một loạt các vai diễn, khai thác vẻ đẹp đã trở thành biểu tượng của bản thân anh, những hình dung tượng trưng và những phân nhánh của nó.



Trương Quốc Vinh sinh năm 1956, là con trai út trong một gia đình có 10 anh chị em. Anh đã chọn tên tiếng Anh “Leslie” cho mình, theo như anh nói, không chỉ bởi vì anh là một fan của bộ phim Gone with the Wind (Cuốn theo chiều gió) và nam diễn viên Leslie Howard đóng vai Ashley Wilkes, mà còn vì anh thích cái tên ấy do nó dùng được cho cả hai giới. Anh xuất hiện trong bộ phim đầu tiên, Erotic Dream of the Red Chamber, vào năm 1978 – nhưng vào thời điểm đó anh tạo dựng nên tên tuổi là từ lĩnh vực ca nhạc, khởi đầu bằng giải nhì tại một cuộc thi hát tìm kiếm tài năng. Nhìn lại những thước phim tư liệu của màn trình diễn năm 1977 ấy – một Leslie trẻ trung trong bộ cánh theo phong cách thủy thủ màu đỏ và trắng đang say sưa hát bản version rút gọn của “American Pie” - thật khó cho ai đó để có thể hình dung được những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Anh hát và nhìn xinh xẻo, giọng hát ngọt ngào, gương mặt ngọt ngào như bất kỳ một thần tượng tuổi teen được ưa chuộng nào khác.



Và rồi rất sớm sau đấy, một điều gì đó ở nơi chàng trai này đã chỉ ra rằng anh có chút điều khác biệt – một kẻ đường hoàng kiêu hãnh, hẳn nhiên là một người vô cùng tự tin – và điều này đã khiến cho anh nhiều bận không thể hòa hợp êm thấm với một số khán giả và đồng nghiệp. Có một câu chuyện được kể lại về những tháng ngày đầu ấy rằng trong một buổi biểu diễn hồ hởi, anh đã ném chiếc nón lưỡi trai anh đang đội vào đám đông. Nhưng nó không phải vật được fan giữ gìn hay mang về làm kỉ niệm: một ai đó đã cầm nó và ném trả lại lên sân khấu, ngay thẳng vào anh.



Anh đã xuất hiện trong một loạt những bộ phim qui mô nhỏ về tuổi trẻ, nhưng phải cho đến khi tham gia Nomad (Liệt hỏa thanh xuân – 1982) của đạo diễn Patrick Tam Đàm Gia Minh anh mới tự công nhận rằng mình vừa thực hiện một tác phẩm điện ảnh thực sự. Trong bộ phim này, anh đóng vai một cậu bé nhà giàu – một người luôn sẵn lòng giúp đỡ bạn bè, là một cậu bé nhiều cảm xúc trong mọi vấn đề – và cuối cùng dính líu vào một chuỗi sự kiện dẫn tới cái kết bạo lực. Cũng trong Nomad, sự phân định giới thiếu rõ ràng của nhân vật anh diễn đã trở thành một câu hỏi bỏ ngỏ. Phim nối phim, anh đã tự chơi đùa cùng với điều này – thẳng thừng hay ngấm ngầm, theo cái cách bỡn cợt hay theo cách bi thảm của riêng anh. Khi giới tính của anh bắt đầu trở thành đích ngắm của những lời suy đoán và săn đuổi của các paparazi, những bộ phim như He's a Woman, She's a Man (Kim chi ngọc diệp 1994) – một phim hài với những hiểu lầm và cắc cớ khi nhân vật của Leslie phải lòng một cô gái đang giả trai – đã tạo nên một sự cộng hưởng bất ngờ, ngay cả khi họ đã lần theo dấu vết của sự nhập nhằng đã trở thành đặc điểm trong vô số màn diễn xuất này của anh ngay từ buổi ban đầu.



Anh chia tay hình ảnh cậu thiếu niên của mình cùng với bộ phim A Better Tomorrow (Anh hùng bản sắc – 1986), một tác phẩm được Tsui Hark Từ Khắc sản xuất. Bộ phim này không chỉ làm nên tên tuổi cho đạo diễn John Woo Ngô Vũ Sâm, mà nó còn trở thành bệ phóng biến Châu Nhuận Phát thành một siêu sao và vực dậy sự nghiệp đang xuống dốc của ngôi sao kỳ cựu Địch Long. Leslie diễn vai Tống Tử Kiệt, một cảnh sát trẻ và là em trai của Tống Tử Hào (Địch Long), mà không hề hay biết anh trai mình là một tội phạm. Bộ phim được bắt đầu với Leslie, hay nói chính xác hơn là với một hình ảnh về cái chết của anh. Một flashback phục hiện, một ác mộng hay một điềm báo ? Điều này không được làm rõ ngay lập tức, mặc dù bộ phim xây dựng phân đoạn kết thúc/mở đầu duyên dáng này giống như một giấc mơ về một điều-xấu-nhất-có-thể-xảy-ra. Trong phân cảnh đầu phim này chúng ta được nhìn thấy Leslie, tay cầm súng, trong một con hẻm tối tăm, khói sương cuồn cuộn, ngã xuống một cách duyên dáng trên nền đất trong một chuyển động chậm buồn: đây là định mệnh nghiệt ngã mà Tống Tử Hào lo sợ, anh choàng dậy, người đẫm mồ hôi, thảng thốt gọi tên em trai mình. Lần tiếp theo chúng ta nhìn thấy Leslie là trong một phân cảnh khác, mọi thứ dường như khác những gì vừa xảy ra. Anh trêu chọc anh trai Tống Tử Hào, giả làm cảnh sát lục soát và định bắt bớ anh trai.


Sau đấy rồi anh cũng phát hiện ra anh trai mình là ai. Trong một khoảnh khắc, sau cuộc đối đầu với Tử Hào và Mark, anh về nhà đối diện bản thân trước một tấm gương rồi giận dữ đấm bể nó với bàn tay không, để lại một vết thương đỏ máu. Anh ghi dấu ấn trong phần còn lại của cuốn phim bằng sự giận dữ của riêng anh: nổi nóng, hung hăng, luôn tự cho mình đúng và bị ám ảnh với việc phải bắt gọn băng đảng tội phạm, quyết không thừa nhận mối quan hệ của anh với anh trai Tử Hào.

Sau thành công rực rỡ bất ngờ của A Better Tomorrow, phần phim tiếp theo được lên lịch quay là điều hiển nhiên không cần bàn cãi. Trong A Better Tomorrow 2 (Anh hùng bản sắc 2 – 1987), sự nhẹ nhõm bông phèn của Tử Kiệt đã biến thành một màn diễn xuất nghiêm túc cho cuộc chơi sinh tử: anh phải làm việc như một gián điệp nằm vùng, tìm cách tiếp cận cô con gái của ông trùm băng đảng mà không để cho vợ anh hay, thường xuyên đóng giả là một ai đó khác, được biết đến dưới một cái tên khác. Trong A Better Tomorrow, Tử Hào đã phải nỗ lực để sống qua hai mặt cuộc đời anh, tìm cách đưa em trai tránh xa khỏi con đường tội phạm; thì nay trong phần hai này, Tử Kiệt là người đàn ông sống với hai mặt cuộc đời. Ngay cả trong phần cảnh cuối cùng của anh, vẫn là anh phải phủ nhận, tìm cách che giấu tình trạng sinh mạng lâm nguy để cho vợ và con gái anh được an lòng. Đây chỉ là một trong rất nhiều vai diễn của Leslie khi mà các nhân vật của anh bị đẩy vào tình thế phải lựa chọn giữa điều cần thiết và điều bị cưỡng buộc như vậy.


Các bộ phim quan trọng liền được nối tiếp theo đó: Năm 1987 không chỉ có A Better Tomorrow 2 được ra mắt mà còn có tác phẩm Rouge (Yên chi khấu) của Stanley Kwan Quan Cẩm Bằng và A Chinese Ghost Story (Thiến nữ u hồn) của Trình Tiểu Đông, cũng do Từ Khắc chế tác, trong cả hai bộ phim này Leslie đều thủ diễn những nhân vật bị ma ám, và ám ảnh hồn ma. Trong Rouge, anh xuất hiện đối diện với Anita Mui Mai Diễm Phương, người nữ ca sĩ và diễn viên đã cùng anh làm nên rất nhiều bản song ca tuyệt hảo. Trên sân khấu họ là một cặp đôi nổi bật, hòa hợp với nhau trong một “vở kịch nhập nhằng” giữa chất nam tính và những đặc trưng của nữ tính – chất giọng của Mai trầm hơn của anh, các đường nét góc cạnh của cô sắc sảo hơn, được đặt kề bên sự mượt mà, êm dịu của anh.

Hai người là hình ảnh tương phản và bổ sung cho nhau trong Rouge. Mai diễn Như Hoa, một kỹ nữ từ những năm 1930s của Hồng Kông, lần đầu xuất hiện trong bộ áo nam nhân đang hát một khúc nhạc mua vui cho quan khách. Sau khi lui vào hậu trường, cô lại trở ra, xuất hiện lần nữa trong bộ sườn xám và những viên kim cương; Leslie, trong vai thiếu gia trẻ giàu có Cậu Mười Hai, ngay lập tức để mắt đến Như Hoa và muốn chinh phục cô thành người của mình. Giây phút đầu đôi trai gái gặp nhau diễn ra trước công chúng, song dường như lại là khoảnh khắc riêng tư trong mắt họ : khi họ nhìn vào sóng mắt nhau, mặt đối mặt, nét kề nét, và chiếc camera quay xung quanh họ, như thể mọi người khác hiện diện nơi căn phòng đã hoàn toàn tan biến.

Cậu Mười Hai, tươi đẹp và hay tự nuông chiều, có hoài bão biểu diễn trên sân khấu tuồng cổ Quảng Đông; anh chống đối gia đình chạy theo những giấc mơ sự nghiệp và theo đuổi mối quan hệ của anh với Như Hoa. Với gương mặt đẹp hoàn hảo, những cái ôm dài lử đử, ngây ngất, sự tự tin vào đặc quyền của mình trong mọi việc, và mong muốn hấp tấp về một cuộc sống nghệ sĩ, anh là một hình ảnh mềm mại cho tính thụ động, tiêu cực và bồng bột sốt sắng. Rouge là bộ phim kết hợp giữa những hương vị ân ái ngọt ngào và niềm luyến lưu hoài cổ, một tác phẩm thấm đẫm ước vọng và khát khao. Sự vắng mặt của Leslie đã ám ảnh tiết đoạn sau của bộ phim khi hồn ma Như Hoa quay trở về dương thế, lang thang giữa thành phố Hồng Kông hiện đại để tìm kiếm người tình mất tích của cô (họ hẹn sẽ tương phùng bên nhau dưới lòng âm phủ). Trong A Chinese Ghost Story, một cách tương phản, chẳng có gì là “lừ đừ uể oải” trong cảnh đầu tiên Leslie xuất hiện: anh tơi tả vụng về, đang mang vác túi đồ của người đi thu thuế, đã chỉ ra rõ ràng một tài năng tiềm ẩn chưa từng được khai phá của anh cho thể loại hài hình thể.




Khi sự nghiệp điện ảnh của Leslie bắt đầu hưng thịnh thì cũng là lúc anh tạm ngưng sự nghiệp ca hát; năm 1989 anh quyết định từ bỏ âm nhạc và tuyên bố điều này trong một nhạc hội, nguyện vọng của anh là anh muốn ra đi khi vẫn còn đang ở trên đỉnh vinh quang. Anh đã nói rằng anh muốn mọi người tiếc nuối cho anh, vì như anh giải thích: nếu anh ra đi khi đã suy tàn thì người duy nhất tiếc nuối sẽ chỉ có mình anh. Sau đó anh cũng tạm ngưng việc diễn xuất trong một thời gian ngắn: nghĩ rằng đây là thời gian để học thêm những điều mới, anh theo học tại một trường điện ảnh ở Canada nhưng rồi rất nhanh sau đó, anh khám phá ra trải nghiệm đứng trước ống kính và cả niềm yêu thích dài lâu của anh dành cho những công việc tỷ mẩn của việc làm phim đã dạy cho anh nhiều điều hơn anh từng nghĩ. CV của anh, nói cho cùng, bao gồm rất nhiều tác phẩm cao quý đã làm nên kỷ nguyên vàng cho nền điện ảnh Hong Kong, trong thập niên 80s và đầu 90s. Anh nhanh chóng quay trở lại với màn ảnh.


Anh là một nghệ sĩ trình diễn luôn nổi tiếng bởi sự nhiệt tình cống hiến hết mình cho khán giả trên sân khấu. Và đây thực sự là một ý tưởng kích thích tò mò, một khi người ta lại nhìn thấy Leslie tránh xa khán giả của anh, hay quay lưng lại với họ cho dù đó chỉ là tạm thời hay vì bất kỳ lý do nào chăng nữa: trong các bộ phim, suy cho cùng, có một lượng lớn các cảnh quay mà chiếc máy quay đã theo dõi anh từ phía sau, là khi Leslie đang quay người đi, khi anh ngoảnh lại trong một cái liếc nhìn, khi anh bước ra xa khỏi ống kính, là khi tồn tại một thứ xúc động khác thường hay một sức diễn cảm lạ lùng qua mỗi lần anh “chia tay” với một phân cảnh. Days of Being Wild (A Phi chính truyện – 1991) đã khắc họa anh nhiều lần bỏ đi, hoặc chiếc camera đi theo anh: trong những khoảnh khắc đó anh lẩn tránh ống kính hoặc phản đối sự tồn tại của nó, các nhân vật của anh thành vóc nên hình, trở nên sống động trong từng hơi thở rành rành cũng như khi được chiếc máy quay ôm ấp.



Anh là một ngôi sao, theo định nghĩa mà các diễn viên vững vàng được liên tưởng tới, bởi vì họ đem vào phim những đặc điểm, những phẩm chất hấp dẫn hay một dạng nổi bật, những yếu tố quen thuộc nào đấy – song thay vì đơn giản khoa trương mãi về những phẩm chất này, các diễn viên tài năng ngay lập tức biến hóa và định nghĩa lại những gì chúng ta biết về họ. Cuộc đời biểu diễn của họ dường như sánh tràn ra khỏi khung phim, lưu chuyển từ bộ phim này sang bộ phim khác, không ngừng làm tăng thêm giá trị và cả sức thu hút. Một vài chi tiết thuộc về anh đã làm nên anh trên màn ảnh không nghi ngờ gì là đến từ phần diện mạo, những đường nét quí phái và riêng biệt đã trở thành “thương hiệu” của anh: những chất liệu, công cụ của người trình diễn, của một diễn viên: làn da, môi, mắt, và cả làn tóc mây.


Bờ môi của anh là hoàn toàn để phân biệt anh. Làm thế nào để miêu tả nó đây ? Một vòng cung của thần ái tình Cupid ? Một nét môi dỗi hờn ? Đây hẳn là hình ảnh lý tưởng của một bờ môi: làn môi dày căng mọng, rõ ràng vô cùng quyến rũ, một sự pha trộn giữa nhục cảm và độ chuẩn xác như đã được tính toán. Ngay lập tức nó trở thành đặc điểm nhận dạng: từ cái nhìn thoáng qua đầu tiên chúng ta đã bắt gặp anh trong The Bride with White Hair (Bạch phát ma nữ truyện – 1993), tất cả những gì cần để nhận ra, là một cảnh quay cận tập trung vào khóe miệng.


Mái tóc của anh, khác với đôi môi, lại có thể dễ dàng biến hóa. Là kiểu tóc bôi sáp trơn mướt Pampadour thường xuyên được chải sang bên, buông trước trán của Yuddy trong Days of Being Wild, một trong những nhân vật sắc sảo nhất, u sầu nhất của Leslie – vẻ đẹp huyền bí hư hỏng và tất cả những lảng tránh cố tình. Phong cách này của anh được duy trì cẩn trọng, gần như được anh trìu mến nâng niu. Khi anh đi đến trước tấm gương lấy lược chải tóc, một cách gìn giữ thận trọng, khi anh đáp trả cô gái khi nàng hỏi anh có muốn cưới nàng hay không, đấy không chỉ đơn thuần là một tiếng “không” rõ ràng: nó còn là một điệu bộ mà thói tự đam mê bản thân đã làm nên. Trong The Bride with White Hair – thước phim thần thoại võ hiệp tráng lệ, đầy nhục cảm mà trong đó kẻ thù-người tình của anh, được diễn bởi Brigitte Lin Lâm Thanh Hà tàn phá hoang cuồng, với những bím tóc tết dài đính lông kim tuyến, hoàn toàn tương hợp với thứ vũ khí trên tay cô, một cây roi da – mái tóc của Leslie cũng có một vai trò để thể hiện. Khuôn mặt của anh luôn được quay nghiêng tại một góc độ; mái tóc anh rối bời xõa trên vai, bướng bỉnh thất thường, hay lướt qua làn gió – một hình ảnh biểu trưng cho chất mong manh dễ vỡ của nhân vật anh diễn.



Trong The Chinese Feast (Kim ngọc mãn đường – 1995), một bộ phim hài ngọt ngào và tinh nhạy của Tsui Hark Từ Khắc, kiểu tóc của anh giống như một phần của các lễ hội: nó hơi dài, với những vệt line màu đỏ, trông anh trẻ đến khó tin (chẳng có gì gần với tuổi thật của anh lúc đấy, đã gần 40) khi anh đóng vai một tay giang hồ đang cố gắng làm lại cuộc đời, một xã hội đen muốn trở thành đầu bếp, hẳn nhiên là anh sẽ lóng ngóng, vụng về đến dễ thương.



Khi anh quay trở lại với nghiệp hát, lần này anh đã có nhiều hơn trải nghiệm với dung mạo và phong cách của anh, anh đã biết cách tự tin đùa cợt với những thái độ như của vị khán giả “yêu dấu” năm xưa, những ngày tháng ném-trả-lại-nón trong quá khứ. Trong những năm cuối cùng, anh đã viết nên nhiều và nhiều hơn nữa những chất liệu của chỉ riêng mình. Tour diễn Passion năm 2000, anh đã luân phiên mặc lên người một chiếc váy, một áo thun lót và quần jean xanh, một bộ com-lê rũ hờ ánh kim lấp lánh, một chiếc tuxedo trắng với đôi cánh thiên thần. Và việc anh đồng tính đã trở thành một bí mật mở: một cách đầy ấn tượng anh đã tiết lộ điều này khi đứng trên sân khấu trước hàng vạn khán giả, hát tặng một khúc tình ca cho một người đàn ông, người đã làm bạn đồng hành cùng anh suốt một thời gian dài. Anh chơi đùa công khai theo cấp độ tăng dần với những ngưỡng ranh giới của hình tượng “pop idol”; anh chọn cách trình diễn kịch tính với những màn thay đổi trang phục và kiểu tóc nhanh đến chóng mặt, khi chuyển từ mái tóc ngắn bóng mượt sang bộ tóc gi dài, thẳng, đen buông xuống tận eo – một phần như Cher, một phần như Pierre Clementi trong The Conformist.



Trong các cuộc phỏng vấn, anh xuất hiện tươi mới và rất hay trêu đùa, ý thức được sâu sắc những tài năng của mình và cả cái cách chúng cần được triển khai. “Tôi có một số phẩm chất độc đáo không ai có,” anh đã nói như thế với Quan Cẩm Bằng, cùng một sự tin chắc không hàm nghĩa gây hấn, trong thước phim tài liệu Yang ± Yin: Gender in Chinese Cinema (Nam sanh nữ tương: Trung Quốc điện ảnh chi tính biệt – 1996), một tác phẩm giám định cá nhân về tượng trưng của chất nam tính, những khát vọng và khác biệt của nó trong lịch sử phim ảnh tiếng Hoa. "Một điều gì đó khán giả kết nối được,” Leslie nói, đệm thêm tiếng Anh, khi anh muốn làm rõ định nghĩa của mình: “Sensitive, in a delicate way.” (“Nhạy cảm, một chất gì đó mong manh nhẹ nhàng.”)


Thường xuyên có một sự nhạy cảm sắc sảo từ anh, trình diễn nằm trong trình diễn, khi những nhân vật dễ tổn thương anh thể hiện rõ ràng không theo cái cách mà người ta vẫn dễ thường tiên đoán. Bằng chứng là Yuddy trong tác phẩm Days of Being Wild căng nhựa, u sầu của Vương Gia Vệ: một người đàn ông thấu hiểu cách gây ấn tượng bản thân với kẻ khác, luôn biết lời cần nói và lời cần đáp trả để kích động phụ nữ. Anh cho đi, anh từ chối không cho, thiên tư của anh sở hữu một sự tấn công dữ dội mà mơ hồ. Đối với Tô Lệ Trân (Maggie Cheung Trương Mạn Ngọc), cô gái đã bị anh quyến rũ với một cách thức đơn giản đến độc địa, anh đã đưa ra lời đề nghị họ cùng chia sẻ một ký ức thân mật mà hiệu quả, vô tận không bến bờ mà vẫn đủ giới hạn – một ý tưởng rằng họ sẽ ghi khắc “tình bạn một phút”, khoảng thời gian họ ở bên nhau, một đề nghị toan tính quá hoàn hảo để ám ảnh cả đời cô gái. Với cô nàng vũ công ngúng nguẩy, hưng phấn Mimi (Carina Lau Lưu Gia Linh), anh tặng nàng một thứ mà thậm chí còn không phải của anh (và nàng đã thực sự thích nó, định lấy cắp nó) – đôi bông tai màu ngọc quí giá Yuddy vừa trấn được từ một người đàn ông sau khi hành hung ông ta thừa sống thiếu chết, và Mimi đã chạm vào; một vật vô tri giác được chuyền nhanh từ tay người này sang tay người khác, một món quà gần như để giành giật hơn là để trao nhau. Yuddy tặng cho Mimi một chiếc bông tai để làm quen, rồi lại nhử chọc cô ấy, khiến nàng chạy theo anh với hy vọng giành được chiếc bông tai còn lại: cùng nàng anh đã say sưa vun bồi, nuôi dưỡng mối quan hệ này nhẹ dạ, vui thú như một khúc điệu apache.



Bộ phim có đầy những món quà và những sự trao đổi, nhưng rốt cuộc không ai có được điều họ mong muốn. Và với Yuddy tự tin – con người luôn ẩn hiện trong tầm nhìn và sau tầm nhìn của chúng ta, chàng trai có thể tự thấy thỏa mãn khi ngắm nhìn hình dáng của mình phản chiếu qua một tấm gương trong khoảnh khắc chàng được bắt gặp đang khiêu vũ cha-cha-cha, và có khả năng tự đọc ra sức quyến rũ của mình phô bày qua từng cử chỉ duyên dáng – cũng không phải ngoại lệ. Niềm đam mê lạc thú bản thân anh hóa ra là một dạng tự định nghĩa lại cá nhân để chống đối với nỗi mất mát, trong khi mất mát là điều đã định nghĩa nên anh. Bị ám ảnh bởi sự thật bị mẹ ruột bỏ rơi khi còn nhỏ, anh bỏ lại tất cả sau lưng, sang Phillippines lùng sục để tìm kiếm bà; sự tự tin của anh phút chốc rạn vỡ, trở thành những cử động tuyệt vọng u buồn, thiếu kiểm soát hay nhân nhượng chấp nhận phản bội, trộm cắp, vỡ mộng, bị bỏ lơ. Có một phân cảnh đặc biệt cồn cào thấm thía là khi anh bước đi sau khi không được phép gặp mẹ, anh đã không bao giờ quay đầu nhìn lại: Yuddy kể cho chúng ta nghe, bằng chất giọng ngoài hình lơ mơ trầm bổng, rằng nếu anh không có được cơ hội nhìn thấy mặt bà thì anh cũng không cho bà được nhìn mặt anh. Phân cảnh được quay qua bờ vai của anh, đung đưa theo nhịp chân bước, những sải bước dài, đầu cúi hờ, thể hiện cho tinh thần kiên quyết và đầy chủ định, song thước phim lại được đánh mờ đi trong một chuyển động chậm, phần nhạc nền ủ rũ như ru, da diết buồn qua những tiếng búng đàn dây đậm hương vị xứ đảo Hawaii, khiến bước chân anh trở thành một điệu nhảy sầu muộn. Ống kính máy quay đuổi sát theo anh ở những giây đầu, rồi nó để anh ra đi, khuất dần về phía xa.





Trong phim Happy Together (Xuân quang xạ tiết – 1997) của Vương Gia Vệ - một tác phẩm vừa bầu bạn vừa tương phản mạnh mẽ với Days of Being Wild – Leslie lại thủ diễn một nhân vật thường xuyên rời bỏ khuôn hình. Anh là Hà Bảo Vinh, người yêu của Lê Diệu Huy (Lương Triều Vỹ), kẻ sở hữu những đoạn thoại ngoài hình lác đác ghi lại dòng sử biên niên của câu chuyện tình: hai con người yêu nhau rời khỏi Hong Kong đi chu du cùng nhau, và thường xuyên chia lìa, mất niềm tin vào nhau. Cũng như Yuddy với “một phút tình bạn” ngọt ngào anh đã đem tới cho Tô Lệ Trân, Hà Bảo Vinh có một câu nói thường làm dấu cho điểm kết thúc và khởi đầu của một mối quan hệ: “Chúng ta bắt đầu lại đi” dành cho Lê Diệu Huy chịu đựng. Nông nổi, dễ vỡ, hay thoái thác – và bị đánh bầm dập bởi những kẻ côn đồ anh giao du trên phố, với đôi bàn tay băng kín – anh dường như muốn lảng tránh người tình và cả chiếc camera, nhưng anh cũng có khoảnh khắc mất mát đau thương của riêng anh, vỡ vụn trong nước mắt, cuộn mình trong tấm chăn, giữa căn phòng mà anh và Lê Diệu Huy từng chung sống. Và tại cuối phim, người tình và chiếc camera đều bỏ rơi anh: anh bị rũ bỏ bởi bộ phim, bơ vơ ở lại xứ Argentina, theo nghĩa nào đó đã biến mất trong khi các nhân vật khác vẫn dấn tới, đi đến những mảnh đất xa xôi hơn, và tìm kế hoạch quay trở về.



Trong thiên sử thi Farewell My Concubine (Bá vương biệt cơ – 1993) của Trần Khải Ca, một tác phẩm nhận về sự tán thưởng của quốc tế và thắng giải Cành Cọ Vàng tại LHP Cannes, anh diễn một hình tượng hoàn toàn được định nghĩa bởi trí tưởng tượng và diễn xuất. Leslie là Trình Điệp Y, từ thuở nhỏ đã được một gánh hát nhận nuôi và đào tạo thành kép hát. Trong quá trình luyện tập cho vai diễn của cuộc đời mình, người ái thiếp trung trinh Ngu Cơ trong tấn tuồng cùng tên với bộ phim, anh đã bị giày vò và đánh đập. Ngu Cơ vốn là phi tần được sủng ái của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ, trước tàn cuộc giao tranh Hán-Sở nàng đã nhất quyết không rời vị quân vương thất thế của mình, còn ca múa cho ngài xem rồi quyên sinh bằng kiếm. Khi còn thơ trẻ (giai đoạn này do hai diễn viên nhí đóng) Điệp Y đã bị ép buộc chấp nhận vai diễn, nhưng rồi anh không chỉ chấp nhận, anh tôn thờ và nâng niu nó. “Chẳng phải là anh ấy đã xóa nhòa ranh giới giữa sân khấu và cuộc đời, giữa đàn ông và đàn bà ?”, một kẻ ái mộ trong phim đã thốt ra như vậy, gần như thâu tóm sự phức tạp của cuộc đời Điệp Y, chung thân sống trong kịch, hay như thể trong kịch. Ngay cả khi lời tán dương ấy cũng nào hiểu được sự ngầm ý của nó.



Bộ phim dõi theo Trình Điệp Y và người bạn diễn Đoàn Tiểu Lâu từ khi còn là hai đứa trẻ cho đến khi trưởng thành, trải qua những cơn biến can qua của lịch sử và những bước thăng trầm của nghệ thuật, bị giằng xé giữa niềm đam mê các giá trị truyền thống Trung Hoa và làn sóng bạo động đả phá chế độ cũ của giai đoạn mới. Trình Điệp Y, kẻ đã cống hiến trọn vẹn cho tình yêu nghệ thuật và vị sư huynh, luôn luôn xuất hiện đường hoàng như ái phi Ngu Cơ qua một thần thái nào đấy: là khi biểu diễn trên sân khấu, khi chuẩn bị điểm trang nơi hậu trường, trong trang phục lộng lẫy văn hoa, qua lớp mặt nạ hoàn toàn hay chỉ nửa phần xoa phấn. Trong những khoảnh khắc biến đổi và chuyển tiếp ấy, Điệp Y không chỉ diễn vai ái phi mà anh đã trở thành hiện thân của nàng, anh đưa nàng trở về nhân thế, vượt xa khỏi ngưỡng giới hữu hạn của kịch. Màn trình diễn của Leslie trong phim này là tuyệt đẹp, và làm suy kiệt người xem, một hành trình khám phá của sự hoán xương đổi cốt, và từ chối thôi mộng: những cử động, sóng mắt, môi cười của ái phi … như thấm đượm hàng trăm năm khuôn thước người xưa, và chúng chi phối vào hành vi, thái độ, biểu cảm của nhân vật ngay cả khi anh đã rời sân khấu. Điều này cũng khiến cho những khoảnh khắc bùng nổ dữ dội hiếm hoi của anh, những giây phút tuyệt vọng, và những cơn mê loạn – tất cả đều sở hữu một uy lực thuyết phục khác thường: khi anh giận dữ và tha thiết khăng khăng rằng anh không muốn bị chia lìa với Đoàn Tiểu Lâu dù chỉ là một ngày một phút một giây; khi anh lao lên những bậc thang vào đúng lúc Tiểu Lâu vừa thoát nạn, những chuyển động của anh khẩn trương và hối hả. Trong những khoảnh khắc ấy, anh cũng đã bỏ qua tấm áo choàng và thoát ra khỏi “cá tính nhân vật”, hành động theo đúng bản thân anh hơn là nhân vật anh diễn, song cũng rất sớm sau đấy anh lĩnh hội được lợi thế của vai diễn, là khi hiền thê của Đoàn Tiểu Lâu đến tìm anh xin giúp đỡ. Anh nhanh chóng quay trở lại điệu bộ của nhân vật, cao giọng “ngả giá” điều kiện với đối phương.


Trình Điệp Y là một vai diễn khó và khắt khe, đòi hỏi anh phải dành ra hàng tháng trời theo học nghệ thuật biểu diễn Kinh kịch. Đó là một hình mẫu chẳng giống ai, một vai diễn dường như không mở ra thêm cánh cửa nào cho anh, ngay cả khi bộ phim đã được hoan nghênh dồn dập trên trường quốc tế và nhận về giải thưởng Phim Hay Nhất tại Cannes, bên cạnh tác phẩm The Piano. Trên thực tế, màn diễn xuất của anh thường xuyên bị coi nhẹ, bị nhập vào với thành công của bộ phim – nó rất xuất sắc, trông như thể chẳng cần nỗ lực mà tự nhiên vẫn biểu hiện nên những đặc trưng, sức nặng tâm lý của nhân vật và cả vấn đề giới tính, gần như nó không thể lưu vào quan điểm của khán giả rằng đấy là thành quả của một diễn viên/ca sĩ chuyên hát nhạc phổ thông.


Anh thường xuyên diễn các nhân vật chỉ yêu bản thân, đạo diễn Quan Cẩm Bằng từng nhận xét như thế về anh trong bộ phim tài liệu Yang ± Yin (Nam sanh nữ tương). Điều đó có phản ảnh đúng con người anh không ? Vâng, dĩ nhiên rồi – Leslie đã cười trả lời. Trong rất nhiều các vai diễn của anh, suy cho cùng, có một lượng lớn phân cảnh anh đứng ngắm mình trước tấm gương, thường xuyên có một sự tự mãn với những gì mà gương soi phản chiếu. Nhưng, ngay cả khi Leslie đã chấp nhận, vẫn tồn tại một nguy cơ cho chúng ta khi muốn nhấn vào chất Narcissus (Hoa thủy tiên) của anh, một hình tượng bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp về một chàng trai đẹp bị lạc lối trong hoan lạc của bản thân khi nhìn ngắm bóng hình mình in trên mặt gương hồ, vẻ duyên dáng của chàng quyến rũ khắp thế gian – một trong số đấy là nàng tiên Echo*, lời bày tỏ tình cảm tuyệt vọng của nàng không được hồi đáp, cứ lặp đi lặp lại cho đến khi chẳng còn là gì ngoài những âm vang* vô hình.



Leslie có lẽ là hiện thân của một cái đẹp hững hờ tự đam mê nào đó, một mối nhục cảm mơ hồ và lấn lướt nguy hiểm đi cùng với chất tổn thương mong manh, và những mất mát. Nhưng các bạn diễn và đạo diễn từng hợp tác với anh đều quý trọng sự chăm chỉ của anh, sự cống hiến của anh, cách anh tỷ mỷ chú tâm vào những chi tiết, lòng nhiệt thành của anh dành cho các kỹ thuật và đặc biệt là cho công việc làm phim. Maggie Cheung Trương Mạn Ngọc, trong một bài viết tưởng nhớ Leslie đăng trên tờ Cahiers du Cinema (Pháp), đã nhớ lại một cảnh quay cuối cùng trong đêm của bộ phim Days of Being Wild. Nhân vật của cô đến nhà của Yuddy – một gã trai “hoa thủy tiên”, kẻ đã làm tan nát trái tim cô gái - để lấy lại vật dụng cá nhân. Đó là một ngày làm việc dài, và như lời cô miêu tả, tất cả mọi người đều đã kiệt sức. Và đấy là một cảnh quay được dàn dựng đặc biệt – ống kính camera luôn dõi theo cô và những gì có thể thấy được chỉ là tấm lưng của Leslie – cô đã chú ý Leslie đang rất cẩn thận diễn tập, đang cố gắng để hoàn thiện một hiệu ứng nào đấy: là âm thanh những bước chân của anh trong cảnh phim.

Days of Being Wild là một trong những phim Hong Kong đầu tiên được thâu thanh trực tiếp, và Leslie đã ý thức rất rõ về vấn đề kỹ thuật này. Sự nhập tâm của anh dành cho vai diễn và dự án, tỷ mỷ cho từng chi tiết lọt vào tai nghe đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng cô, Maggie nói vậy. Đây thật sự là một mẩu chuyện gây cảm động khi một người nghệ sĩ trình diễn ý thức về mọi phương diện cần thiết cho màn diễn xuất của mình: từ những thứ hữu hình cho đến thứ vô hình, từ sự thoát thai cho đến cái trần tục. Một người đàn ông có thể hóa thân thành một Narcissus, và đã làm điều này hoàn hảo đến mức ám ảnh; cũng có thể là một người đàn ông đã chịu khó tập luyện, với sự quan tâm cần mẫn, cho tiếng vọng* từ những bước chân mình.


Hết.


Chú thích:

- Narcissus: có nghĩa là "hoa thủy tiên", cũng là tên của một chàng trai trong Thần thoại Hy Lạp từ chối tình yêu với tiên nữ Echo, sau vì quá say mê với bóng ảnh xinh đẹp của mình mà gục chết bên bờ hồ biến thành loài hoa thơm ngát.

- Echo: có nghĩa là "âm vang, tiếng vọng", cũng là tên của tiên nữ từng có biệt tài kể chuyện nhưng bị cướp đi khả năng mở lời trước. Nàng phải lòng chàng Narcissus nhưng không thể nói chuyện với chàng, bị chàng lạnh lùng cự tuyệt. Quá đau khổ và hổ thẹn nàng trốn vào rừng thẳm, sống trong hang và trên những vách núi cao, đi theo muôn thú và con người để bắt chước lại những âm thanh họ tạo ra, trở thành Nữ thần tiếng vang.

* : Nguyên văn trong bài viết, các chữ này đều dùng chung một từ là "echo" .



Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Nam sanh nữ tương: Những phần liên quan đến Leslie Trương Quốc Vinh

Nam Sanh Nữ Tương: Trung Quốc Điện Ảnh chi Tính Biệt (男生女相:中国电影之性别 hay Yang ± Yin: Gender in Chinese Cinema), đạo diễn bởi Quan Cẩm Bằng (Stanley Kwan) là một tác phẩm Hong Kong thuộc thể loại phim tài liệu ra mắt năm 1996, thời lượng 80 phút.

LINK DOWNLOAD (torrent, with Eng-sub) : http://asiafilm.tv/project/yan-pol-v-kitajskom-kino/ => this is uploaded by Yara

LINK FULL YOUTUBE (with Viet-sub) : https://www.youtube.com/watch?v=pXUxZ1LuKw0&t=1862s


Dưới đây là phần mình dịch sơ lại từ bản engsub những đoạn phim có liên quan tới Leslie từ rất lâu rồi, hiện đã có link xem online do Khue Nguyen thuộc Leslie Cheung Vietnamese Fanclub thực hiện vietsub mình đã cập nhật ở phía trên. 


======================



Ngoài Quan Cẩm Bằng, các vị khách mời gồm có : Các đạo diễn Trương Triệt, Trần Khải Ca, Phương Dục Bình, Hầu Hiếu Hiền, Lý An, Thái Minh Lượng, Từ Khắc, Ngô Vũ Sâm, Tạ Tấn, Trương Nguyên, Dương Đức Xương và hai diễn viên Trương Quốc Vinh, Địch Long. [Phim có sự hiện diện/điểm tên của gần như mọi đạo diễn quan trọng nhất của Hoa ngữ đương thời, mở đầu là lời tự sự của đạo diễn Quan Cẩm Bằng về gia đình anh, sức ảnh hưởng của những người mẹ người chị và ám ảnh về người cha mất sớm. Anh cũng tự nhận mình là “một đạo diễn của nữ giới” khi thường xuyên trong các tác phẩm của anh nhân vật trung tâm đều là phụ nữ.

Thước phim tài liệu đề cập rằng trong giai đoạn đầu của điện ảnh Hoa ngữ, các nữ minh tinh là những người nắm giữ sức hút trên màn bạc, và điều này trái ngược hoàn toàn với nền điện ảnh Mỹ. Chỉ đến thời của đạo diễn Trương Triệt sức hấp dẫn của hình ảnh nam giới trên phim mới được khai thác đúng đắn và được chú trọng.]


........


[Bộ phim tài liệu nhắc tới tác phẩm kinh điển Dạ Bán Ca Thanh năm 1937 của Trung Quốc, đề cập đến rằng thời kỳ này phim kinh dị Hoa ngữ chịu ảnh hưởng của phong cách Hollywood.]

[Quan Cẩm Bằng] Vào năm 1995, Hong Kong cho ra mắt phiên bản làm lại Dạ Bán Ca Thanh với sự tham diễn của Leslie Trương Quốc Vinh.

[Bắt đầu chiếu một số trích đoạn trong hai bộ phim]

[Quan Cẩm Bằng] Trương Quốc Vinh là một người đàn ông điển trai. Trong phim Dạ Bán Ca Thanh anh diễn vai một người ca sĩ bị kẻ ác tàn bạo hủy hoại dung mạo. So sánh giữa cũ và mới, phiên bản nào anh cho là hay hơn ?

[Trương Quốc Vinh] Tôi cảm thấy kịch bản của bản phim mới đã để lỡ mất một số cơ hội khai thác tâm lý nhân vật. Đặc biệt là cảm xúc của nhân vật nam chính sau khi gương mặt anh ta bị hủy hoại. Nó chưa đủ sâu sắc. Tôi cho rằng nó vẫn còn quá giả tạo, đã dành quá nhiều đất cho phần lãng mạn ái tình. Tôi biết phiên bản gốc đưa ra được nhiều thông điệp hơn.


[Chiếu một số trích đoạn hai phiên bản Dạ Bán Ca Thanh]

[Quan Cẩm Bằng] Dung mạo bị biến dạng là một gợi ý liên tưởng đến thói tự yêu bản thân (khí chất hoa thủy tiên). Trương Quốc Vinh đã diễn qua nhiều nhân vật chỉ yêu chính mình. Tôi hỏi anh, liệu anh có thật là một kẻ tự yêu mình không ?

[Trương Quốc Vinh – cười tươi khoái chí ] Hiển nhiên rồi !

[Hình ảnh nhân vật của Trương Quốc Vinh qua các phim Anh Hùng Bản Sắc, Yên Chi Khâu, Bá Vương Biệt Cơ]

[Quan Cẩm Bằng] Vậy phần nào mới là ấn tượng trước nhất ? Khí chất hoa thủy tiên của Trương Quốc Vinh hay là khía cạnh “nữ tính” của các nhân vật ?

[Trương Quốc Vinh] Tôi nghĩ mình sở hữu một số phẩm chất độc đáo. Khán giả kết nối được với chúng. Có lẽ là một dạng nhạy cảm, đặc biệt là trong thể loại lãng mạn. Một chất gì đó mong manh, nhẹ nhàng.



[Chiếu trích đoạn phim Bá Vương Biệt Cơ]

[Quan Cẩm Bằng] Nội dung của cuốn tiểu thuyết là về mối quan hệ yêu/hận giữa hai nam nghệ sĩ tuồng cổ Bắc Kinh. Nhưng bộ phim đã giảm đi các yếu tố đồng tính và nhấn vào chuyện một người phụ nữ xen vào giữa hai người đàn ông. Thêm nữa, tình cảm của người em cũng không được đáp đền. Tôi đã hỏi Trần Khải Ca vì sao anh lại có những thay đổi như vậy ?

[Trần Khải Ca] Khi tôi làm phim Bá Vương Biệt Cơ tôi không nhìn nhận đây là một câu chuyện đồng tính. Tôi chỉ lấy ra những chi tiết tôi cần từ trong cuốn tiểu thuyết. Sự thật là tôi đã phải chắt lọc lại. Tôi chắt lọc như thế nào ư ? Tại sao tôi xây dựng nên tuyến nhân vật cho Củng Lợi ? Tôi có những lý do hợp lý để làm như vậy. Thực tiễn nhất là chúng tôi đã tuyển Củng Lợi, chúng tôi phải tạo nhiều đất diễn hơn cho cô ấy thể hiện. Nhưng quan trọng hơn nữa là tôi cần một nhân vật tương phản với nhân vật của Trương Quốc Vinh. Tôi phải bổ sung vào bộ phim những mối dây tình cảm được xem là chính thống hơn để làm bật lên sự tương phản, để tô đậm những cảm xúc của người em dành cho người anh – nhân vật do Trương Phong Nghị thủ diễn.

[Trích đoạn phim Bá Vương Biệt Cơ]

[Quan Cẩm Bằng] Cái kết phim của Trần Khải Ca cũng khác biệt so với câu chuyện gốc. Đoạn kết của anh đi "đúng kiểu" hơn. Hai nam nghệ sĩ cùng diễn tập lại trích đoạn Hạng Vũ biệt Ngu Cơ, và nhân vật của Trương Quốc Vinh đã thật sự rút gươm tự vẫn. Cái kết nguyên thủy là hai nam nghệ sĩ khi về già đã gặp lại nhau trong một nhà tắm dành cho người đồng tính.

[Trích đoạn bản phim truyền hình Bá Vương Biệt Cơ năm 1982 giữ nguyên kết thúc như trong tiểu thuyết]




[Quan Cẩm Bằng] Một số người cho rằng việc thay đổi hướng đi câu chuyện của Trần Khải Ca là thể hiện cho thái độ kỳ thị người đồng tính. Vậy anh ấy đã biện hộ cho mình như thế nào đây ?

[Trần Khải Ca] Đối với tôi, kết phim cùng cái chết của Trình Điệp Y giúp đẩy bộ phim lên đến cực điểm. Tôi đã nghĩ tới nhiều tình huống cho kết thúc phim. Họ có thể vĩnh viễn xa nhau, những cuộc chia ly đẫm lệ, và vẫy tay tạ từ ... nhưng những điều đó không làm hài lòng tôi, cũng không phù hợp với cá tính Trình Điệp Y. Trình Điệp Y là kẻ sẽ cất cao giọng phản kháng. Tôi cho rằng thái độ ẩn đằng sau câu chuyện Bá Vương Biệt Cơ thuộc về thời hiện đại. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta có thể ép buộc lối suy nghĩ của người hiện đại lên các nhân vật và cuộc đời của họ. Đấy là hai chuyện khác nhau. Khi bộ phim ra mắt, dù thế nào khán giả cũng sẽ nhận ra cốt lõi của nó thôi. Và cốt lõi là Điệp Y là một người đàn ông. Dù anh ta có phơi bày mình thế nào, anh ấy vẫn là đàn ông. Đây là câu chuyện về một người đàn ông đem lòng yêu một người đàn ông khác.

[Hình ảnh và nội dung bắt đầu chuyển sang sự nghiệp của Trần Khải Ca cùng tác phẩm có liên quan tới đề tài đồng tính khác là The Big Parade, rồi họ nhắc sang bộ phim kinh điển Vũ Đài Thư Muội 1965 của đạo diễn Tạ Tấn]

...

[Tạ Tấn] Vào thời điểm đó tại Trung Quốc chúng tôi luôn phải dè chừng, đối mặt với nhiều “thứ”. Các tình tiết liên quan tới giới tính có thể được đưa vào, nhưng không được đi sâu. Chúng tôi phải nhấn nội dung theo góc nhìn chính trị. Thế nên tôi không thể đi theo đường hướng khác.

[Trần Khải Ca] Tôi không thấy việc khai thác mối quan hệ giữa hai người phụ nữ gắn bó với nhau theo cái cách mà “tôi cần nhìn nhận” như vậy là hướng đi thú vị. Nếu tôi làm đạo diễn Vũ Đài Thư Muội, nó sẽ là một câu chuyện tình yêu giữa hai người phụ nữ. Nhưng những gì Vũ Đài Thư Muội đã truyền tải thì lại chẳng liên quan.

[Trích đoạn phim Vũ Đài Thư Muội, rồi chuyển sang trích đoạn phim Bá Vương Biệt Cơ]

[Tạ Tấn] Những bộ phim đầu của Trần Khải Ca chú trọng vào nội dung và những điển hình tính cách nên khán giả không lấy gì làm thích thú. Chúng không gây được hứng khởi, lại còn khó xem nên chẳng có mấy người xem chúng (cười). Nhưng Bá Vương Biệt Cơ đã đóng một dấu ấn thay đổi lớn cho anh ta. Tôi nhận ra biến chuyển này thật sự đi vào chi tiết và tinh tế. Người Trung Quốc chúng tôi nhìn nhận dạng quan hệ này rất khác với người phương Tây. Giữa hai người nam nghệ sĩ, điều này chấp nhận cũng dễ thôi. Nhưng những phân cảnh gợi tình giữa anh ấy (Trương Quốc Vinh) với gã “vua tuồng cổ” đồng tính thì thật sự khó mà chấp nhận.

[Trích đoạn “khó chịu” của Bá Vương Biệt Cơ, rồi chuyển sang sự nghiệp của Tạ Tấn với những bộ phim đã đi vào lịch sử như Cao Sơn Hạ Đích Hoa Hoàn, Phù Dung Trấn. Tạ Tấn cũng được xem là một nhà đạo diễn thường xuyên tập trung vào phụ nữ như Quan Cẩm Bằng]


...............


[Phim nhắc tới phần sự nghiệp của đạo diễn Từ Khắc cùng sở thích “vặn xoắn” giới tính các nhân vật của ông qua các phim Đao Mã Đán, Tiếu Ngạo Giang Hồ chi Đông Phương Bất Bại, Lương Chúc ... và họ bắt đầu đề cập tới hình tượng phi nam phi nữ của Lâm Thanh Hà]

[Trương Quốc Vinh – đoạn này vừa nói vừa biểu cảm sinh động ] Trong chuẩn mực đạo đức của người Trung Hoa, sẽ dễ dàng được chấp nhận nếu một phụ nữ đóng vai phản xuyến hay giả trang nam nhi. Khi một phụ nữ diễn vai nam điều đấy không thành vấn đề gì, mọi người sẽ rất khoan dung với cô ấy. Nếu một người nữ phảng phất 60% nét nam tính, cô ấy sẽ được xưng tụng và kính nể. Nhưng nếu một người đàn ông diễn vai phụ nữ và nhìn 80% nữ tính, ngay lập tức sẽ bị chống đối, mọi người không rộng lượng với anh ta. Đây là một tình huống điển hình trong quy phạm đạo đức của người Trung Hoa. Nếu anh hỏi tôi Lâm Thanh Hà diễn vai nam có thực sự thuyết phục không thì tôi nghĩ là không. Xin lỗi, tệ thật ! Cô ấy là bạn rất tốt của tôi, nhưng tôi vẫn phải nói rằng cô ấy không đủ thuyết phục khi nhập thân thành đàn ông. Nhưng có một điểm hấp dẫn ở đây, cô ấy luôn tuyệt đẹp.

[Trích đoạn phim Tuyệt Đại Song Kiều, sau đó quay lại với trích đoạn phim Bá Vương Biệt Cơ]


[Quan Cẩm Bằng] Nữ diễn viên trong bộ dạng nam nhân vốn rất phổ biến, hình ảnh này được cả thế giới chấp nhận. Nhưng khi một nam diễn viên xuất hiện trong bộ dạng nữ giới, chuyện này sẽ luôn trở thành một “vấn đề”. Giới tính của anh ta, phẩm giá của anh ta sẽ bị đặt dưới dấu hỏi. Liệu điều này có làm phiền Trương Quốc Vinh không ?

[Trương Quốc Vinh] Hầu như trong rất nhiều phim tôi đã thể hiện một hình ảnh nhạy cảm mỏng manh, vì thế luôn có rất nhiều đồn đãi không thiện chí xung quanh tôi. Ngay từ buổi khởi đầu đã thế. Nhưng dần dần thế giới quan của mọi người đã bắt đầu thay đổi, anh có nhận thấy không ? Những chuyện này ngày càng ít bị để ý hơn, phải không ? Nói chi tiết hơn thì tại sao mọi người lại cần quan tâm nhỉ ? Họ trả tiền để được ngắm diễn viên xinh đẹp, quyến rũ trên màn ảnh. Và như vậy với khán giả mộ điệu về tình cảm mà nói là đã đủ. Và điều này cũng là hợp tình hợp lý, công bằng thôi. Nếu họ chấp nhận một người nữ diễn vai một người nam, thì nam diễn viên đóng vai nữ cũng nên được chấp nhận.


[Nội dung bộ phim tài liệu bắt đầu đi vào việc lý giải sự thay đổi trong nhận thức và nhu cầu thưởng thức mới của lớp trẻ thành thị những năm 90, sau đó lội ngược dòng thời gian quay về với hình tượng của bộ đôi nghệ sĩ tuồng cổ Quảng Đông trứ danh: Nhậm Kiếm Huy & Bạch Tuyết Liên. Phim kết thúc cùng những câu hỏi của Quan Cẩm Bằng dành cho mẹ ruột của anh xoay quanh sự ái mộ của bà dành cho nữ nghệ sĩ Nhậm Kiếm Huy, “mối tình ngoài đời” giữa họ Nhậm & Bạch cũng như suy nghĩ của bà về đứa con trai công khai là một người đồng tính.]


======================

Hết

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

Hoa Thủy Tiên


Tác giả: Eunice Lam - Lâm Yến Ny - 林燕妮 @ nextb@nextmedia.com
Source: “Next Weekly壹週刊” Magazine; Column entitled “The past events were like real 往事如真”, Issue #874, December 2006
English Translation: Daydreamer (12/2006)
Viet translation: Mai, edit: beforsure
:::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::


Tôi thích miêu tả về Leslie Cheung như thế này: anh là một người yêu bản thân, nhưng cũng không biết làm sao tự bảo vệ mình, anh cũng không bao giờ muốn tổn thương ai. Đã ở trong ngành giải trí bao nhiêu năm như vậy, nhưng anh vẫn rất thuần túy.

Là một diễn viên, làm sao anh không biết giả vờ? Thế nhưng anh không thích làm như thế.

Anh ấy dễ bị tổn thương. Tôi sống ở Po Shan Road 8 năm và nhiều người đã đến nhà tôi. Tôi hỏi Leslie: „Sao cậu chưa đến nhà tôi bao giờ nhỉ?“ Anh ấy trả lời bằng tiếng Anh: „I haven’t been invited.“ (Tôi không được mời) Tôi thực sự vô ý. Quen biết anh lâu thế, nhưng tôi lại quên mời anh đến nhà chơi. Anh đã để tâm.

Anh ấy rất thận trọng đến mọi người. Những việc nhỏ xíu như “cậu không mời tôi, thì tôi không đến”. Giống như thời điểm Leslie chưa nổi tiếng, trong khi ca sĩ nhận giải thưởng được chúc tụng, anh chỉ đơn thuần ngồi ở một góc tối, không gây một tiếng động hay kêu ca. Anh không muốn làm phiền người khác.

Năm đó, thực ra anh ấy phải nhận được giải thưởng; “Wind continues to blow” (Gió tiếp tục thổi) là một ca khúc hay. Sau đấy chúng tôi phát hiện Leslie ngậm ngùi lau nước mắt, và chúng tôi động viên anh: “Năm sau cậu nhất định sẽ nổi tiếng”. Và điều đó đã trở thành sự thật, năm sau đó, anh ấy trở nên rất nổi và cứ thể càng nổi tiếng hơn. Anh và Alan Đàm Vĩnh Lân cùng rất nổi tiếng. Điều này kéo dài hơn 7 năm.

Lúc bắt đầu, khi Leslie hát, anh ấy có vấn đề với việc “chơi chữ kiểu song ngữ “, ví dụ anh ấy chỉ hát nửa chữ, nửa còn lại thì không nghe thấy, và anh hát không được rõ để người ta nghe được. Sau khi người ta nhắc nhở anh điều ấy, vần đề này đã được cải thiện.

Giọng của Leslie không phải một giọng ca hoàn hảo, nhưng điều này không quan trọng. Điều quan trọng là “Wing Hon” (Giọng của Vinh) khác với những người khác. Khi bạn nghe những ca khúc của anh, bạn dễ dàng nhận ra đó là giọng hát của Leslie. Nó chứa đựng một chất vị. Lạ thay, anh ấy lớn lên ở Hong Kong, nhưng giọng Quảng Đông của anh lại có một trọng âm quý phái gốc Guangzhou Xi Guan.

Anh ấy có năng khiếu trong ngôn ngữ và giỏi cả hai thứ tiếng Anh và tiếng Quan Thoại. Một lần, tôi nói “Dai Wan 大腕“ và dùng ngữ điệu thứ ba cho chữ “Wan”, Leslie lập tức nói với tôi rằng tôi nên dùng ngữ điệu thứ nhất để phát âm.

Nét thẳng thắn của anh thật đáng yêu. Một lần, tôi dùng trà với anh tại khách sạn Peninsula. Tôi hút thuốc lá. Anh thì nói: “Tôi có thể hỏi chị đừng hút thuốc trước tư cách một người đại sứ về chống hút thuốc không? Chính phủ đã mời tôi làm đại sứ chống hút thuốc .” Tôi trả lời: “Không”. Điều đó làm anh ấy lặng người , thế nên anh đành phải để tôi tiếp tục hút thuốc.

Tôi được một tờ báo tuần san phân việc phỏng vấn Leslie, chúng tôi nói chuyện rất lâu và đột nhiên anh ấy nói: “Tôi phải đi 10 phút” Tôi hỏi lại anh: “Chuyện gì xảy ra?” Anh ấy nói nhẹ nhàng: “Đi đại tiện”.

Một lần trong buổi sinh nhật của tôi được em trai tôi tổ chức, Leslie tặng tôi một chiếc đồng hồ. Anh nói “As promised (‘như đã hứa’ bằng tiếng Anh)”. Tôi đã quên bẵng đi điều ấy. Có một ngày Leslie đeo một chiếc đồng hồ của hãng đó, tôi nhìn thấy và nói với Leslie là nó thật khả ái, và anh đã để điều đó trong lòng.

Đêm đó, Lau Tat Chi đã đến mặc dù không được mời. Điều đó cũng chẳng có vấn đề gì vì anh ấy cũng là bạn. Lau muốn được chụp ảnh với Leslie và Leslie đã không từ chối. Đêm đó Leslie tự động nói chuyện và cười đùa với những người khách khiến mọi người rất vui vẻ.

Về sau Leslie nói với tôi: “Khi tôi nhìn thấy Lau Tat Chi đến, tôi gần như muốn chuồn rồi. Anh ta “dẫm lên tôi” vì mặc trang phục cũ rich của Jean-Paul Gaulthier tại concert của tôi. Nếu không phải vì chị thì tôi không chụp ảnh với anh ta!”

Tôi đã mắng Lau Tat Chi trong một bài viết mà tôi viết cho một tờ báo trước đây đã lâu. Leslie không hỏi tôi phải làm thế, chỉ là tôi muốn làm một hành động anh hùng khi nói lên sự bất đồng với việc không công bằng như thế. Tôi sẽ bình luận về vấn đề đó dù tôi có hay không biết người đó. Bên cạnh đó, quan niệm và kiến thức của tôi về thời trang hơn nhiều người.

Nếu có việc bình chọn nữ nhà báo được yêu thích nhất, tôi chắc chắn không muốn là người đó. Không có quan hệ quần chúng, không có đánh bóng tên tuổi, không có kết giao thân cận, làm sao tôi có thể là người giật giải? Không phải là tôi không biết chơi cuộc chơi đó như thế nào, chỉ là cuộc đời ngắn ngủi và tôi không có thời gian để nói dối. Và bởi vì điều đó, tôi yêu mến Leslie.

Trước khi anh ấy di dân, anh muốn chuyển đến một ngôi nhà khác. Tôi đã thấy một chỗ tốt với một không gian 360 độ nhìn ra biển, nhưng nó quá đắt. Tôi đưa Leslie đến đó để xem. Sau khi anh ấy đi xem xung quanh, anh nói với tôi “Chị đã nghĩ về tôi quá cao rồi”, ý như anh ấy không thể mua nổi. Leslie không phê bình cái này hay cái nọ để cho bạn cảm thấy là anh ấy có thể mua căn nhà nhưng chỉ bởi vì chỗ đó không đủ tốt.

Vào thời điểm ấy, Leslie sống ở Repulse Bay. Anh đưa chúng tôi đến phòng ngủ và nói mơ mộng “Mỗi đêm trước khi đi ngủ, tôi nghe một số bản nhạc này của mình”. Anh ấy bật cho chúng tôi nghe và hỏi “Rất sexy phải ko? Đúng vậy chứ?”

Năm 1986, phim “A better Tomorrow” được công chiếu giờ nửa đêm. Lúc đó, những rạp phim rất to lớn. Chúng tôi thường ngồi ở những hàng trên balcon, còn khán giả nói chung ngồi ở hàng dưới đất. Những buổi chiếu vào nửa đêm là cách tốt nhất để thử cảm nhận của khán giả.

Địch Long đóng vai anh lớn của Leslie. Dù nhân vật đó là một tên xã hội đen, nhưng lại hạnh phúc khi em trai mình là một nhân viên cảnh sát. Hai anh em ở hai phe đối đầu. Châu Nhuận Phát, một nhân vật khác trong phim đóng vai cùng phe với Địch Long.

Leslie ngồi cạnh tôi và nói “Chết thật, khán giả yêu thích Châu quá nhưng tôi lại là anh cảnh sát bắt Châu Nhuận Phát và anh trai mình, không ai sẽ thích đâu”.

Nhưng mỗi khi anh ấy thấy mình xuất hiện trên màn hình, Leslie lại vỗ tay phấn khởi. Tôi hỏi Leslie “Sao cậu cứ vỗ tay mỗi lần thấy mình trên màn hình thế?”
Anh ngây thơ nói “ Nếu không phải tôi vỗ tay trước, thì ai sẽ làm? Tôi phải hướng họ để họ làm theo chứ”. Thật như thế, khi khán giả nghe thấy tiếng vỗ tay ở trên thì họ đã làm theo.

“A better tomorrow” lập tức trở thành bộ phim ăn khách, nhưng điều quan trọng hơn nó đã trở thành phim tiêu biểu của Hong Kong cũng như trở thành kinh điển, khiến Hollywood phải chú ý.

Trong “A better tomorrow 2”, Leslie có một vai diễn nặng ký hơn. Như rằng mình trúng số độc đắc, Leslie nói “Lần này mọi người sẽ đồng tình với tôi hơn. Xem tôi đã diễn đạt thế nào! Khi vợ tôi mang bầu thì tôi bị bắn chết”.
Loại người như thế trở nên tuyệt chủng sau cái chết của Leslie.

Anh ấy rất để tâm đến người khác. Một lần, có người bạn của chúng tôi mở tiệc sinh nhật nhưng không mời Anita Mai Diễm Phương. Anita bực bội và ghé qua sau khi bữa tối kết thúc. Vừa đến đó thì Anita đã khóc. Jacky Trương Học Hữu không nhúng tay vào. Mọi người đều biết Anita đến để gây chuyện, không ai muốn đưa cho cô ấy một ánh mắt giả vờ không biết gì. Chỉ có một mình Leslie đã ôm Anita vào lòng ngực, để cô ấy khóc lên chiếc áo da mới của anh. Với nước mắt hòa cùng trang điểm, phần nửa áo da của Leslie đã ướt bẩn.

Thế nên vì sao trong ngày tang lễ của Leslie, Anita đã khóc như thể cô chưa từng khóc bao giờ.

Tất cả đã trôi qua rồi. Hoa thủy tiên ơi, cậu thế nào? Tốt chứ? Nếu vậy thì đừng bao giờ quay trở lại.



[Ghi chú: Bài viết này được tác giả đặt là “Hoa thủy tiên” bởi nguồn gốc sâu xa của tên hoa được gọi theo tên của một nhân vật thần thoại Hy Lạp chỉ yêu bản thân mình “Narkissos”.]




Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

Leslie, chàng trai mong muốn “đẹp” nhất

Tháng 6, 1998 戯非戯
Leslie, who wanted "beauty" the most
Tác giả :
Cheng Pui Pui (Trịnh Bội Bội hay Trịnh Phối Phối), nữ diễn viên Hong Kong nổi tiếng, cô từng đóng cặp với Leslie trong “Woman at 33”, một bộ phim truyền hình ngắn có thời lượng 30 phút do RTHK sản xuất.


***

Tôi từng nghỉ diễn hơn 10 năm trời sau khi kết hôn. Tuy thế, đôi lần tôi vẫn tham gia vào một số phim truyền hình. Một trong số đó là “Woman at 33”, một phim truyền hình ngắn do RTHK sản xuất.


Câu chuyện phim kể về một người phụ nữ đã ngoài 30. Chồng cô ta có nhân tình và một ngày nọ hắn đề nghị cô li dị. Cô ấy bất đắc dĩ phải chia tay. Nhiều người đàn ông muốn đến với cô nhưng hầu hết đều không tôn trọng cô, vì cô là người phụ nữ đã li dị chồng. Đúng lúc này một chàng trai trẻ đã xuất hiện và yêu cô vô điều kiện, bất chấp cả sự cách biệt về tuổi tác giữa hai người nhưng cô không thể đáp lại tình yêu ấy. Bộ phim kết thúc dở dang vì ngay chính bản thân của nhân vật cũng không biết mình nên đi về đâu.

Trong bộ phim ngắn này tôi đóng vai người phụ nữ 30 tuổi, và Leslie đóng vai chàng trai trẻ.

RTHK nằm dưới sự quản lý của chính phủ HK nên tiền thù lao không được cao. Tuy vậy, các nghệ sĩ đều tin tưởng chất lượng của phim truyền hình sản xuất bởi RTHK vì mọi chương trình do họ thực hiện đều giữ được một trình độ nhất định. Vì thế nên các nghệ sĩ dù tiền thưởng có ít chúng tôi cũng đều nỗ lực và làm việc chăm chỉ hết sức mình cho RTHK.

Bộ phim truyền hình ngắn này được quay trong 9 ngày, sử dụng cỡ phim 16mm. Chất lượng tốt và đủ để đem đi tham dự tại các Liên hoan phim quốc tế.

Tôi không thể nhớ được tường tận từng chi tiết của các buổi ghi hình đó nữa, cũng không còn nhớ rõ về bộ phim. Em gái tôi hiện vẫn giữ một cuốn băng video của phim này tại nhà cô ấy ở Úc.


Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ quên được bộ phim ngắn này. Lý do chính đó là vì Leslie. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Leslie là … anh là một con người trẻ tuổi “xinh đẹp” (beautiful) nhất và đầy cuồng nhiệt. Anh khắc họa bức chân dung về người đàn ông trẻ đã đem lòng ngưỡng mộ vị nữ gia sư lớn tuổi hơn (do tôi đóng) kể từ khi còn rất nhỏ. Anh che giấu tình yêu của anh dành cho cô ấy trong tim trong suốt một thời gian dài, nhưng khi biết được cô ấy li dị, anh đã bắt đầu theo đuối cô một cách nghiêm túc.

Leslie còn rất trẻ vào lúc đó và dĩ nhiên vẫn còn rất non nớt để đạt được các mục tiêu của riêng mình. Đương nhiên là lúc đó anh đã rất đẹp nhưng dường như luôn có điều chi phiền muộn, âu sầu. Những ngày ấy anh chưa tìm được bước đột phá nào hay dự định được các kế hoạch tương lai cho sự nghiệp.


Tôi lúc nào cũng cảm thấy như có một niềm kiêu hãnh đặc biệt nào đó tuyệt nhiên không thể diễn tả hết thành lời hiện hữu trong tâm hồn của chàng trai trẻ này. Anh có quá nhiều tự tin vào bản thân anh. Anh không chỉ tự tin với vẻ bề ngoài và tài năng của anh mà còn 100% tự tin vào mọi việc anh làm. Tuy nhiên, anh vẫn đang phải ẩn mình để chờ thời.

Một con người tự yêu bản thân, một đóa hoa thủy tiên như anh là rất hiếm có. Làm gì có mấy người đàn ông yêu bản thân mình nhiều như anh. Anh thậm chí không cần đến cả tấm gương soi bởi vì anh đích thị chính là người đàn ông “đẹp” (beautiful) nhất trên thế gian này.


Tôi đã quen biết anh được hơn một thập kỷ. 10 năm mà ngỡ thời gian đã quá lâu, gần như một thế kỉ vừa trôi qua. Nếu có ai đó muốn viết về sự nghiệp của chúng tôi, ắt hẳn anh ta có thể viết được một bộ tiểu thuyết rất dài.

Trong những năm gần đây, cả hai chúng tôi đều trở về Hong Kong gần như trùng thời điểm và bắt đầu quay trở lại làng giải trí. Chúng tôi không thường xuyên gặp mặt nhau lắm. Tôi nhớ có lần đã gặp lại anh sau một thời gian dài cùng với chương trình “Phỏng vấn với người nổi tiếng” do Chinese News tổ chức tại Malaysia cách đây nhiều năm. Tôi hỏi thăm anh để phỏng vấn về việc làm phim của anh. Lần kế tiếp tôi gặp anh là tại phi trường tại Los Angeles. Anh đến đấy để tham dự lễ trao giải Oscar tổ chức trong năm. “Farewell My Concubine” (Bá Vương Biệt Cơ) được đề cử cho hạng mục Phim Nước Ngoài Hay Nhất tại Giải thưởng Viện Hàn Lâm Mỹ.

Trong cả 2 dịp ấy khi tôi gặp Leslie, anh vẫn tôn trọng tôi như với bậc đàn chị chứ không phải với tư cách một phóng viên. Có lẽ là anh đúng … tôi thật sự giống như bà chị của cậu bạn thân nhất của anh vậy! Đó là lý do vì sao anh luôn đối xử thật dễ thương với tôi mỗi khi chúng tôi gặp nhau. Nhưng tôi chưa hề nói cho Leslie hay là tôi xem anh giống như một cậu em nhỏ của tôi bao giờ … mà chuyện này cũng có quan trọng gì đâu.

Hoặc cũng có lẽ chúng tôi đã từng là chị em trong tiền kiếp và sẽ tiếp tục cho kiếp sau … trong kiếp này, chúng tôi dường như có định mệnh gặp gỡ nhau và ủng hộ lẫn nhau như giữa những người bạn tốt hay là như giữa em trai và chị gái.

Cũng vì lý do này, tôi chưa bao giờ bỏ lỡ bất cứ dịp nào để đi xem phim của Leslie. Tôi luôn tự đi mua vé và xem phim của anh ngoài rạp. Các bộ phim của anh đều đáng tiền. Rất ít diễn viên giống như anh tại Hong Kong, những con người sở hữu bầu không khí nhiệt huyết và sự chân thành mãnh liệt. Hoặc bạn cũng có thể nói thế này, đối với anh, phim ảnh không phải là để kiếm tiền mà nó là một niềm đam mê anh mong được thỏa mãn với chính mình. Một khi con người không làm việc vì kế mưu sinh, con người đó sẽ có khả năng vươn tới đỉnh cao nhất tài năng của anh ta. Làm việc vì đam mê … đó là giấc mơ của hầu hết mọi người.

Các bài hát của anh cũng rất tuyệt. Nhiều năm trước đây, anh từng bị đối xử tàn nhẫn và đã rời làng giải trí. Tôi không biết rõ lắm về nguyên nhân khiến anh ra đi. Nhưng nay anh đã quay trở lại, và lại hát. Cũng không cần phải hỏi tại sao. Với bản thân tôi, tôi cũng đã từng bỏ nghề cách đây 20 năm nhưng có thật sự tôi bị đối xử tệ không ? Điều duy nhất tôi có thể nói là vào lúc đó cả hai chúng tôi đều còn quá trẻ và không nhận thức được đầy đủ về mọi điều trong thế giới này. Nhưng bây giờ chúng tôi đều đã tìm ra luân lý của cuộc đời và sẽ không hứa trước bất cứ điều gì cho tương lai nữa.

Leslie là một diễn viên với tài nghệ diễn xuất nổi trội. Tôi không thể kiềm giữ được niềm ái mộ của tôi dành cho tài năng diễn xuất của anh. Nhưng với “Phantom Lover” (Bóng ma trong nhà hát – Dạ Bán Ca Thanh) thì đó lại là một ngoại lệ. Lần đầu tiên tôi chống lại sự cứng đầu, cố chấp của anh với quan niệm về “cái đẹp” (beauty). Nếu anh không muốn từ bỏ “sắc đẹp” của anh, sao anh lại nhận đóng vai đó ? Có điều gì đã ép buộc anh chăng ? Tên tuổi của anh còn được ghi trên dòng cast&crew với tư cách một nhà sản xuất, vậy anh ắt phải biết rõ những thử thách khi anh thách thức với vai diễn.

Lần cuối chúng tôi gặp nhau, anh nói với tôi “hãy cùng đóng chung một phim nữa chị nhé”. Từ đó đến nay, chúng tôi vẫn chưa có cơ hội hợp tác đó. Nhưng tôi vẫn quý anh nhiều lắm.


Những ngày này anh dường như vẫn rất bận rộn với các bộ phim và bài hát. Nhưng tại sao gương mặt anh vẫn phảng phất buồn như vậy ? Một người đàn ông yêu cái đẹp vẫn có thể tổ chức tiệc mừng sinh nhật lần thứ 40 vui vẻ được chứ. Mọi nỗi u sầu, dù là ở mức độ nào, cũng đều là không thích hợp cho anh.



heobeo @dienanh.net
Nguồn : http://www.geocities.jp/leslielegacy2003/