Tìm kiếm bài trong Blog này

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Leslie đã bị đùa cợt bởi một bartender tại Paris

Nguồn lesliecheung.cc
Dịch Vô Sắc


Đã một thời gian chúng ta không gặp Leslie. Trông anh ấy vẫn mạnh khỏe như mọi khi và không mập vì cuộc sống nhàn rỗi . Nhưng dường như là Leslie không hài lòng với sự khen ngợi này . Anh ấy xác nhận :" Nhìn kỹ đi , tôi bị mất 15 pounds ". Leslie xuống cân bởi vì sức ép căng thẳng của đại nhạc hội , nhưng sau đại nhạc hội số cân của anh lại tăng lên 146 pounds vì ăn quá nhiều . Bây giờ thì anh rất cẩn thận với chế độ ăn kiêng của mình , ít tinh bột , ít chất béo càng nhiều càng tốt . Nhìn thấy anh lột miếng da thịt gà , phóng viên đã hỏi anh :" Tôi cá là anh không ăn bộ lòng ". " Tôi không ăn chân gà , giò heo , những thứ giống vậy , còn bộ lòng thì tôi chỉ ăn cật và bao tử ".

Phóng viên nói rằng Leslie là 1 người sành ăn . Sẽ không thấy được anh tại các quầy hàng thực phẩm.Yan Chor-sin ( ca sĩ ) đã kể với phóng viên rằng lần trước cô đi taxi thì được tài xế taxi kể lại với cô là ông ấy vừa mới chở Leslie đến một khu đất ở Shatin . Yan đã cãi với người tài xế ấy là không thể có chuyện đó vì Leslie có xe và tài xế riêng và anh sẽ không đi taxi . Nhưng người tài xế khẳng định rằng ông không thể sai vì không ai khác lại có thể đẹp trai như Leslie . Do đó phóng viên đã hỏi lại Leslie . Sau khi suy nghĩ một lúc Leslie bất chợt nhớ ra . Anh nói rằng anh đã đi taxi đến khu đất ấy , chỗ quay phim (喋血街頭 ) để thăm John Woo ( Ngô Vũ Sâm ) và đoàn phim . Anh không biết chỗ nên phải đi taxi. Chỗ đó là Lee Cheng Uk Estate.










Nói chuyện về phim “Once a Thief” (Tung Hoành Tứ Hải) với những cảnh được quay ở Pháp . Leslie nói rằng anh đã đến Pháp 2 lần để quay phim , lần đầu là phim “Last Song in Paris” , và lần khác là phim chuyên đề ca nhạc của anh “Sunset in Paris " . Anh nói Paris là một nơi đẹp để du lịch tham quan , nhưng nó không dễ để sinh sống tại đó . Ngay cả thức ăn cũng kỳ lạ . Nhưng anh lại thích rượu vang đỏ. Thật là thú vị nếu trò chuyện cùng bạn bè trong lúc thưởng thức rượu vang đỏ . Bởi vì kinh nghiệm quá khứ đã làm Leslie lo ngại về những bữa ăn , Châu Nhuận Phát đề nghị mướn 1 căn hộ có bếp nên họ có thể mang theo 1 đầu bếp và không cần phải ăn fast food.


Leslie kể lại một câu chuyện đã bị 1 bartender đùa cợt khi lần trước anh đến Paris . Anh kể :" Tôi đến một nhà hàng ( 1 bar) cùng với 2 người bạn . Chúng tôi rất là khát nước và không muốn uống rượu nên chúng tôi gọi 3 cokes .Ngay lập tức khuôn mặt của bartender chảy dài .Anh ấy đem 3 cokes và 3 cái ly mug ( loại 1 lít ) và đặt xuống bàn một cái " bang". Và điều buồn cười nhất là anh ấy cho chúng tôi 3 cái ống hút ngắn , mà ống hút ngắn thì không dùng được với ly mug. Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu là tại sao anh ấy lại làm thế với tôi ."













Mỗi lần Châu Nhuận Phát gặp Leslie thì anh ấy đều thuyết phục Leslie quay lại . Anh nói :" Anh mới ngoài 30 , quá trẻ để về hưu. Anh vẫn chưa đóng góp nhiều cho xã hội chúng ta ". Nhưng Leslie nói : "Tôi có mà , các cậu bé, cô bé ở thập niên 80 đều lớn lên cùng với các bài hát của tôi ".

Châu Nhuận Phát muốn trở thành ca sĩ sau khi đã gặt hái được thành công trong sự nghiệp diễn xuất . Phóng viên đã trêu chọc Châu khi biết Châu sẽ không để ý đến sự chỉ trích của mọi người hay là lấy anh làm trò đùa . Anh đã yêu cầu Leslie làm gia sư dạy nhạc cũng như làm người phê bình kỹ thuật âm nhạc của mình . Do đó Leslie nói đùa với Châu :" Tôi không muốn có bất cứ lời phê bình nào . Anh ấy không có nghiêm túc , chỉ cần sử dụng danh tiếng thì có thể làm 1 album mà ." Sau đó anh đã giả vờ dỗ dành an ủi Châu và hỏi thăm nếu anh ấy không cảm thấy vui . Họ đều cười lớn . Leslie vẫn nghịch ngợm và đáng yêu như mọi khi .








Bài viết tưởng niệm Trương Quốc Vinh, từ Red Mission

V-trans: heobeo

Yên Chi Khâu - Vết Son

From Red Mission

Tôi đặt tiêu đề cho bài viết này là Yên Chi Khâu (Rouge), hộp son đỏ mạ vàng Thập nhị thiếu gia đã tặng cho Như Hoa, và tôi cũng chọn nó như một hình tượng để liên tưởng về anh. Nghê Khuông đã khen ngợi anh là “mi mục như họa” (mắt mày đẹp như tranh vẽ), Lâm Tịch đã ca ngợi anh là “tạo vật chủ đích quang vinh” (quang vinh của Đấng tạo hóa).


Vào lúc 6:41 tối, ngày 1 tháng 4, 2003, anh đã ở đây, ngay tại khu Trung tâm, trên Khách sạn Mandarin Oriental, tầng thứ 24, anh rơi, tan vào không khí và gió, hóa thành trăm mảnh hồng điệp. Trong ngày vui Ngốc nghếch, anh đã chọn lựa cách ngốc nghếch nhất, với một thái độ tích cực và quyết liệt nhất của mình, anh gửi lời chào vĩnh biệt với thế gian. Anh đã lừa phỉnh chúng tôi bằng một trò đùa khó ngờ nhất, đùa không thích đáng chút nào, ca ca à. Tại sao? Tại Hong Kong, nơi anh rơi xuống, một ngôi sao xinh đẹp lát gạch đã được khắc tên anh và nằm trên đại lộ, nơi tất cả mọi người đều có thể đi ngang và ngắm nhìn nhưng tuyệt không ai có thể giẫm chân lên. Trong tâm trí tôi đã mường tượng ra cái khoảnh khắc anh đáp xuống mặt đất, linh hồn anh lúc đó hẳn đã ngẩng cao đầu, trên đôi môi nhẹ nhàng nở nụ cười tuyệt đẹp. Vào cái khoảnh khắc ấy khi anh chuẩn bị nhảy, anh đã nói anh muốn một mình nhìn ngắm Hong Kong thêm một chút, anh có chắc không? Bên dưới đó chỉ là một biển ngầm mênh mông đầy sóng nước đen tuyệt vọng thôi mà anh. Nhưng anh đã là người quan trọng hơn bất cứ ai, đủ để biết đến điều đó. Và thay vì ngồi đây phê phán giới truyền thông đã làm anh bệnh, tôi sẽ quay lưng đi và chỉ nhớ đến một câu trong bộ “Nguyễn Linh Ngọc ký”, câu văn ấy viết rằng “Tha tâm như lưu ly, phá toái thâu tiêu, lệnh thế tục đích phi nan thanh tề tề bế chủy” (Trái tim của cô trong sáng như pha lê, làm tiêu tán mọi âm thanh chỉ trích, bịt mồm mọi miệng lưỡi phàm tục của thế gian). Anh cũng như vậy đấy.


Vai diễn Trình Điệp Y của anh trong “Farewell My Concubine”, bất kể cảm nhận cuộc sống và ý nghĩ của anh ta ra sao, là nam hay nữ, anh cuối cùng đã làm nên sự hợp nhất bằng tất cả tâm hồn và thể xác của anh để hóa thân thành nhân vật, một người nghệ sĩ tuồng cổ Bắc Kinh. Anh chính là con người đó, người đàn ông mang trong mình trái tim phụ nữ, Trình Điệp Y. Còn nhớ rõ cảnh phim khi anh lao ra từ buồng thay y phục, cay đắng hét lên trước mặt Đoàn Tiểu Lâu: “Như thế không đủ! Tôi muốn suốt cuộc đời này. Thiếu đi một năm, một tháng, một ngày, ngay cả chưa đầy một giây thì không phải là suốt đời nữa!”. Điệp Y, ban đầu vốn đã là hiện thân của loài chim phụng hoàng, từ thuở ấu thơ khổ đau, bị chúng bạn bắt nạt, bao lần bị bỏ rơi, dường như anh đã trải qua hết mọi hỗn loạn, nhiễu nhương của lịch sử và đời người. Đến năm 1977, trải qua 50 năm trời, lần đầu tiên “ái thiếp” tái ngộ “quân vương” trên sân khấu, bỏ lại cuộc đời sau lưng, anh đã giải thoát bản thân mình lần sau cuối, tự tử bằng chính thanh kiếm của bá vương. Từ trong ngọn lửa của tàn tro, phụng hoàng lại ngóc đầu vươn lên, sải rộng cánh bay và bất tử muôn đời.





Còn nhớ lần đầu tiên tôi hoàn thành việc đọc cuốn “Bá Vương Biệt Cơ” vào một cuối ngày, tôi lại đọc nó thêm một lần nữa, và cuối cùng ngày hôm sau tôi bị ngã bệnh, cuốn sách đã thành bệnh của tôi. Hôm đó tôi sốt cao, buồn ngủ và đã ngủ rất nhiều, gần hơn 10 tiếng đồng hồ, thờ ơ với hết thảy nhịp sống đang rủ rỉ ngoài kia, tôi đắm chìm dài lâu trong một giấc mộng, mắt tôi vẫn cay, mơ màng tưởng nhớ, tưởng như chính là Điệp Y đang sống, đang thở đâu đây quanh tôi “nhất tiếu vạn cổ xuân, nhất đề vạn cổ sầu” (một nụ cười đem đến vạn mùa xuân, một giọt lệ mang về muôn nỗi sầu), bên tai văng vẳng giọng hát của Điệp Y “Hán binh dĩ lược địa, tứ diện Sở ca thanh, quân vương ý khí tận, tiện thiếp hà liêu sanh” - lời ca như gắn liền với vở kịch cuộc đời anh, trong vở kịch đó anh đã khóc khi hay tin Trương Phong Nghị có con, trong thực tế tôi nghĩ hẳn anh cũng muốn có một đứa con, bởi vì anh luôn muốn có một gia đình.


Vai diễn Trần Chấn Bang trong “Rouge” (Yên Chi Khâu), Thập nhị thiếu gia, trường thân ngọc lập (người dài dáng thẳng, uy nghi như tượng ngọc), phong thần tuấn lãng (phong thái khôi ngô tinh thần sáng suốt), mặc một bộ hắc bào, trông tươi đẹp lạ lùng với hàng mi lười biếng, bờ mắt mệt mỏi đong đầy ẩn ức đằng sau ánh nhìn lả lơi, vui đùa âu yếm tuy là giễu cợt đấy nhưng khối tình si này mấy ai kháng cự nổi. Ngay đến nữ tác gia của cuốn tiểu thuyết Rouge - Lilian Lee (Lý Bích Hoa) cũng không thấy hối tiếc khi Trương Quốc Vinh đóng vai cậu Mười hai.





…Vị thiếu gia ngồi dậy từ sàn giường gỗ, nở nụ cười ranh mãnh trêu chọc Như Hoa, đóa hoa đó thân phận thấp kém, là một cô gái chốn lầu hồng vừa lọt vào mắt xanh của chàng. Đóa hoa đó sau này sẽ là người tô lên môi lớp yên chi chàng đã tặng cho nàng, âu yếm chàng, cười với chàng, nở rộ như một vườn xuân, và rồi ngày ngày chàng lại ngồi bên bậu cửa trong bộ áo choàng trắng, sẽ dõi mắt chờ đợi nàng trở về từ gian phòng riêng của một người đàn ông nào khác …



Điểm 11 giờ ngày 8 tháng 3, năm 1934 – dấu hiệu thời gian của hai người tại Di Hồng Lâu, Như Hoa chuốc bã thuốc phiện và thuốc ngủ cho Thập nhị thiếu gia, nhưng chàng đã bừng tỉnh dậy … Năm 1987, lúc này chàng đã già nua, lưng còng và thảm thương, vẫn hồn ma duyên dáng xinh đẹp của Như Hoa tìm về bên chàng và nàng đã quay lưng một đi không trở lại. Mờ mịt trong đám sương khói dày đặc, giọng của chàng mơ hồ thét gọi: “Như Hoa!” Chẳng còn chút gì đẹp đẽ như khi chàng hát độc tấu “Mặc sầu nguyệt hoa viên” (U sầu trong vườn trăng) . Hóa ra tôi lại cho cảnh anh rơi là đúng, vì rằng 50 năm nữa gương mặt anh chắc cũng sẽ chằng chịt các đường vết chân chim, sẽ già nua và xấu xí. Và rằng vì anh đã mãi mãi dừng lại ở nơi miền tươi trẻ đó, ở lại vĩnh viễn cùng cõi thế gian này với một hình ảnh: vẫn là một người-đàn-ông-46-tuổi tuyệt đẹp, với đường nét quyến rũ nữ tính không ai cưỡng nổi. Cuối cùng thì đường đi lối về của anh cũng không phải là vô ích, một sự công bằng cho một cái chết ra đi.


Happy Together (Xuân Quang Xạ Tiết), Hà Bảo Vinh lấn át trong chiếc áo khoác màu vàng mơ. Anh lạc lõng dưới ánh đèn đường u khuất trên các con phố tại Buenos Aires, ấm áp trong chiếc taxi màu vàng lắc lư, trong chớp mắt đã ngủ say trên vai Lê Diệu Huy, anh phá phách, say xỉn và cô độc trong một quán bar khiêu vũ bên một người xa lạ, ánh mắt anh làm tan nát cõi lòng Diệu Huy khi đứng trước cửa phòng với những vết thương đang rỉ máu, sụp đổ ngã nhào vào lòng Huy và rấm rứt khóc.




Inner Senses (Dị Độ Không Gian), Jim Law của anh là một bác sĩ chuyên khoa điển trai và tinh tế, nhưng ẩn giấu đằng sau trái tim tuyệt vời ấy lại là một bí mật kinh khủng. Đây là vai diễn cuối cùng của anh, nhiều người cho vì anh đã quá nhập vai, vì anh đã bị ám ảnh với nỗi đau trầm cảm cũng giống như nhân vật. Tôi cũng tin một phần, nhưng đó không phải là nguyên nhân dẫn đến tất cả.





Rơi vào cùng một nỗ lực tương tự, tôi biết người bị đẩy đến bước đường cùng, phải ngồi trên mép tòa nhà cao ốc thăm thẳm như thế hẳn phải có một công tắc “cầu chì” làm cho anh/cô ta bùng nổ. Lúc ấy trái tim tôi cũng có quá nhiều nỗi đau, không có lấy một tia hi vọng hay kỷ niệm êm ngọt nào có thể xoa dịu con người tôi, và cuối cùng có lẽ tôi đã quyết định nhảy. Trong khi nhìn ra quang cảnh tất cả những sinh vật đang sống bên dưới kia, đang cười đùa, họ không đủ đau để thấu hiểu nỗi đau của tôi, nỗi ám ảnh và cô độc chỉ càng vẩn vương, càng khiến cho tôi nhận ra rằng sẽ chẳng có ai nhớ đến tôi, tương lai tôi mờ mịt cũng không thể đọc được. Nhảy xuống là việc hết sức dễ dàng, và sau đó tôi sẽ được giải thoát.
Nhưng nếu ngay lúc đó, chỉ cần có một người thôi, một người nào đó phía sau bạn nhìn thấy, và họ thét gọi tên bạn thì có lẽ bạn sẽ không chết, sẽ không quyết định buông xuôi. Tất cả những người đã mất đều có một ẩn giấu tận trong tiềm thức của họ, và rằng đó là luôn mong muốn không phải ra đi, không bị hút xuống hố sâu tuyệt vọng, luôn mong ngóng cho một tiếng gọi từ cuộc đời xung quanh. Một tiếng gọi thôi cũng đủ tạm thời hay vĩnh viễn kéo họ thoát khỏi bóng đêm của lãnh địa tử thần.

Nhưng ca ca ơi, anh đâu phải như người bình thường, anh là người sống trong một thế giới vinh quang, sự nghiệp của anh là sở hữu của tất cả mọi người. Tuổi thơ anh cô độc, tình yêu khác giới gặp trắc trở, và tình yêu đồng giới, không có lấy một phút giây bình yên, bị phương tiện truyền thông quấy rầy, những lời phỉ báng bôi bẩn … tất cả đều là nguy cơ tạo nên căn bệnh trầm cảm nghiêm trọng, chưa kể đến chủ nghĩa cầu toàn của anh, sự tự hoại bản thân, tự chỉ trích và giễu cợt… “Cả cuộc đời tôi chưa làm gì sai. Tại sao mọi thứ lại trở nên thế này?” Câu tự vấn nhức nhối vốn không tự nhiên mà thành này được viết trong bức di thư tuyệt mệnh anh để lại, anh tự hỏi đấy rồi cũng tự trả lời, rồi anh ra đi để cứu chuộc mảnh linh hồn thư hoại của riêng mình!


Thanh nhân có câu: “Gia gia tranh xướng ẩm thủy từ, nạp lan tâm sự hữu thùy tri” (Nhà nhà đều tranh nhau thơ xướng đối ẩm, nhưng tâm sự cao khiết (nạp lan) thì mấy ai thấu hiểu). Ca ca à, thiên thiên vạn vạn người điên đảo vì anh; thiên thiên vạn vạn người xem phim, nghe nhạc của anh; họ ca ngợi anh là tuyệt vời, là “thử mạo chính ứng thiên thượng hữu” - tài mạo con người chỉ duy có được tự trên trời cao. Nhưng trái tim anh lại cực kỳ đơn độc, cảm xúc của anh phức tạp, tài năng của anh là không dễ song hành. Tài cao thì nghiệp lớn. Không ai hiểu anh. Chỉ có anh và duy nhất tâm hồn anh bám víu cùng nhau.

Mai Diễm Phương đã khóc cho anh, trách anh sao nông nổi, bỏ mặc cô ấy. Bàng hoàng như thể bút tích kia không phải là thật, dù rằng anh thực sự đã nhảy, thực sự đã ra đi, và hẳn là anh đã phải thất vọng lắm, thất vọng cho bao năm qua trên cõi đời này, mọi nỗi đau, cùng muôn chiến công hiển hách, và rồi trước khi hoàng hôn buông hết cho một tối Hong Kong, anh đã vẽ nên một đường cong tuyệt đẹp ly kỳ, với 46 năm liền hiến sinh cho một trận đấu, tự khẳng định bản thân với cả thế giới, rồi sau đó, kết thúc nó một cách hoàn hảo.
Trên gương mặt trắng trong của anh, một dòng máu đỏ tươi say đắm chảy xuống thành dòng, diễm lệ khác nào sắc hồng của đào lý chưa phai, thắm đẹp như vệt son yên chi, làm thành vẻ hoa lạc, điểm trang cho một buổi tối cuối xuân cay đắng. Đó là khoảnh khắc huy hoàng cuối cùng trên gương mặt anh, vẫn mãi mãi là vẻ đẹp của thế gian này, vẫn đang sống đấy, nhưng đã thoát khỏi ánh nhìn soi mói và vòng xoáy điên cuồng của nhân gian. Anh không mất, mà chỉ đi đến một thế giới khác, bình yên hơn, mảnh đất của những linh hồn bất tử.


Ca ca, tôi tin, tôi hiểu, anh đã quay lưng một đi không trở lại, trong bộ tố y, “thanh cù xuất trần, y duệ phiêu phiêu” (dáng dấp thanh thoát xuất trần, tay áo nhẹ bẫng bay bay) anh chạm bước đến chốn bồng lai, bỏ về nơi xa xăm, nơi vùng đất vĩnh hằng không còn nỗi lo đầu bạc. Cái chết của anh đã làm cho cuộc đời anh trở nên hoàn mỹ, thần bí, độc nhất vô nhị. Không hay thay, anh đi ngay thời điểm cực cùng của sự bị truy đuổi, và rồi đột nhiên anh kết thúc tất cả. Những người từng làm việc với anh, những kẻ thù của anh, rồi những bạn bè thân thiết, và người yêu, ngoài cái chết của cô bạn thân không lâu cùng năm đó, Anita Mui Mai Diễm Phương, đa số còn lại đều vẫn sống hạnh phúc. Tôi nhìn họ quẩn quanh trong cái vòng tròn ấy, và rằng trong số họ không biết ai đấy có từng hối hận, sẽ hối hận vì đã bỏ mặc anh, hay rằng họ đang cố che đậy điều gì, và điều duy nhất có thật ở đây là chỉ có mình anh ra đi, nếu đây là bản chất của họ thì tôi không chịu nổi, liệu còn có tình yêu tồn tại trên thế giới này không?
Tuy nhiên, tôi vẫn thấy hạnh phúc cho anh ca ca à, vì rằng họ đang già, ah, anh thấy không, họ không còn trẻ và gương mặt đã mất dần xinh đẹp, da dẻ nhăn nheo, cơ thể dần dần phát tướng, lão hóa đang cặp kè với họ, cuộc sống cũng chẳng tốt gì hơn như khi anh hạnh phúc nhất. Anh đang ngự trên đỉnh trời mây nhìn xuống và mỉm cười, phải không anh? Ngoại trừ anh, vẫn ở lại cùng dáng vẻ của năm 2003, đủ tốt để vĩnh viễn bình tĩnh an tường. Anh xinh đẹp hơn hẳn bọn họ, anh nên hạnh phúc vì điều đó.





Ca ca. Hãy để chúng tôi ghi nhớ đến anh. Anh chính là những ngày mộng tháng trăng. Anh không quá gần cũng chẳng quá xa, anh vừa hồ hởi đã biến thành hoa rơi. Anh là truyền kỳ, là huyền thoại. Anh là vinh quang của Đấng tạo hóa, Thiên Chúa cũng hối hận khi Người đồng ý cho anh vào thế giới của con người, trong thế giới này họ ghen tỵ với dung mạo, với tài năng, trí tuệ và tinh thần tuyệt thế của anh. Trước khi trở về nơi anh thực sự thuộc về, ca ca à, cầu mong cho tất cả mọi tính linh ở thế giới bên kia, tất cả các bạn được hạnh phúc.

Nếu có kiếp sau, mong anh hạnh phúc.

Tưởng niệm Trương Quốc Vinh.

***

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Một bài viết của Walter Mason

Leslie Cheung

Tác giả: Walter Mason, nhà văn, lữ khách đam mê du lịch. Ông là người đã viết nhiều cuốn cẩm nang về các địa danh du lịch trên thế giới. Tháng 3 vừa qua Mason vừa cho ra mắt 1 cuốn sách viết về những trải nghiệm của ông khi ghé thăm Sài Gòn, có tựa là "Destination Saigon" .

Source: Walterblog
Dịch bởi: heobeo @dienanh.net

***

Một trong những ngôi sao màn bạc tuyệt vời đầu tiên của Hong Kong mà tôi khám phá ra chính là Leslie Cheung.


Trong thập niên 90 Leslie là một đại minh tinh, một trong những con người nổi danh nhất tại châu Á, dường như tên tuổi anh hiện diện ở khắp mọi nơi.

Chuyện song hành sự nghiệp ca sĩ/ diễn viên là điều rất thịnh hành tại Hong Kong, phẩm chất ngôi sao đã di chuyển Leslie sang một miền lãnh địa khác, và anh trở thành một siêu sao màn bạc. Nét quyến rũ thanh lịch và gương mặt điển trai thân thiện như của một anh bạn láng giềng đã giúp anh trở thành kẻ được ái mộ cuồng nhiệt bởi các thanh thiếu nữ; và anh cũng chưa từng phạm sai lầm, luôn luôn lịch lãm và thật khiêm nhường trước con mắt của đám đông. Anh trở thành một hình mẫu lý tưởng của một số lượng khổng lồ những người đồng tính, và thực tế là anh đã gần như trở thành một biểu tượng dành cho các nam thanh niên đồng tính tại Hong Kong và Đài Loan ngưỡng vọng, một người nào đó đại diện cho họ về tiếng tăm và thành đạt nhưng hoàn toàn thoát bỏ khỏi những khuôn mẫu nam nhân sáo mòn mà các nam diễn viên, ca sĩ khác thường xuyên mắc phải.

Leslie đã thể hiện sự táo bạo và dũng cảm cực cùng khi anh nhận lời đóng vai Trình Điệp Y, một nghệ sĩ Kinh kịch Bắc Kinh hoa mỹ nữ tính trong kiệt tác quốc tế đình đám của đạo diễn Trần Khải Ca: Farewell My Concubine. Màn trình diễn ấy của anh thật phi thường, mang đầy sắc thái và tinh tế khó tả – mọi người bấy giờ bắt đầu nhận ra Leslie không chỉ đơn thuần là một thần tượng nhạc pop, anh còn là một tinh hoa của điện ảnh.

Tuy nhiên, khi nhận một vai diễn như thế này, hệ quả tất yếu bị ảnh hưởng là việc thay đổi hình tượng của Leslie bị đem lên bàn cân phê phán. Hàng ngàn fan tuổi teen của anh đã chuyển sang tìm kiếm một thần tượng mới, nhưng điều này cũng đem đến tự do cho Leslie, có thể theo đuổi những vai diễn gai góc và nhiều thử thách hơn, cũng như được cởi mở cuộc sống bản thân mình. Anh chạm đến đỉnh cao sự nghiệp cho Happy Together, bộ phim gây tranh cãi năm 1997 của đạo diễn Vương Gia Vệ. Trong tác phẩm này anh đóng vai Hà Bảo Vinh, một cậu trai đồng tính hư hỏng, mắc thói tự yêu bản thân đã ruồng bỏ người tình trầm mặc của mình để lang thang và sống vất vưởng trên các con phố tại Argentina. Bộ phim này gan góc, hàm ẩn biết bao thông điệp, và cả hai người nam diễn viên chính của phim (Leslie và Tony Lương Triều Vỹ - cùng đồng thời tự mạo hiểm danh tiếng của mình khi đóng vai người tình của một người đàn ông khác) đã diễn tả vai diễn của họ chân thật đến mức đáng thảng thốt giật mình, bất chấp cả việc thiếu đi những trường cảnh âu yếm, thề thốt ái ân. Đây là một bộ phim xuất chúng, và vẫn là một tác phẩm kinh điển được sùng bái cho đến tận ngày nay, được yêu thích và ca ngợi bởi các tín đồ điện ảnh ở khắp nơi trên thế giới.

Buồn thay, vào năm 2003 ở tuổi 46, Leslie tự sát sau khi phải chịu đựng căn bệnh trầm cảm trong suốt một thời gian dài.

Anh vẫn được Hong Kong yêu mến, và mỗi năm qua đi dường như chỉ trở thành một cơ hội mới cho mọi người trình làng và ôn lại những đĩa nhạc, những thước phim và những cú “hit” tuyệt vời nhất của anh.

Anh là một người đàn ông xinh đẹp, dũng cảm và tài năng.

Thế nên ngày hôm nay tôi dành một lời cầu nguyện nhỏ để tưởng nhớ về Leslie.


Ngày 28 tháng 4, 2010

***

Trương Quốc Vinh – Niềm kiêu hãnh của Châu Á



Anh đến cùng cơn gió Xuân, tươi mới và thân thiện.

Anh khiến chúng tôi thư thái và bắt đầu cuộc phỏng vấn trong một tâm trạng hứng khởi như thể chúng tôi bị thôi miên. Đôi mắt ấm áp của anh ánh lên sự can đảm.

Tháng tư trước tại buổi biểu diễn cuối cùng của Pasion tour, anh đã nói có lẽ anh sẽ không tổ chức biểu diễn trong thời gian sắp tới. Anh muốn tự mình làm một bộ phim.

Lần này Pop Asia đã có một buổi phỏng vấn Leslie.
Chúng tôi đã hỏi anh về bộ phim đầu tay và về Inner Senses “Dị độ không gian”…

________________________________________


Pop Asia (P) Leslie (L)

P: Chúng tôi đang háo hức chờ phim của anh. Nó thế nào rồi?

L: À, bây giờ mới trong giai đoạn chuẩn bị.

P: Tại sao anh thích tự làm phim?

L: Thật ra hơn 10 năm trước, rất nhiều bạn bè trong giới giải trí Hong Kong hỏi tôi là: “Leslie, sao cậu không tự làm một bộ phim?”. Nhưng lúc đó tôi chưa sẵn sàng. 2 năm trước, tôi quay một MTV và làm một phim ngắn cho chiến dịch chống thuốc lá (phim From Ashes to Ashes).

Bây giờ tôi đã sẵn sàng cho công việc đạo diễn. Tôi thật sự muốn làm phim. Gần đây tôi thường nói mình thích làm một đạo diễn. Bởi nếu tôi bỏ qua cơ hội này tôi không thể làm phim được.

Tôi biết bây giờ tôi đã sẵn sàng, vì tôi yêu thích việc làm phim.

Thành đạo diễn rồi, tôi sẽ làm một phim thật hay để đáp lại những sự kỳ vọng.
Đó là ước mơ của tôi, nó rất quan trọng. Theo tôi, đạo diễn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc sản xuất phim. Tôi đã xuất hiện trong hơn 70 phim. Tôi biết một bộ phim được quay như thế nào, nó được chỉnh sửa và hoàn thành ra sao.

P: Anh đã quyết định tên bộ phim, việc thử vai hay những thứ khác chưa?

L: Tôi đang nghĩ tựa đề, nhưng nó không hoàn toàn liên quan 100% tới nội dung. Vì thế tôi gọi nó là “Kế hoạch L” có nghĩa là “Kế hoạch của Leslie”. Diễn viên sẽ của Trung Quốc đại lục.

P: Vì sao anh lại thích chọn các diễn viên đại lục hơn Hong Kong?

L: Bởi vì cốt truyện xảy ra ở Đại Lục. Lời thoại được viết bằng tiếng Quan Thoại. Nó rất khó cho các diễn viên Hong Kong. Tôi thích được thảo luận. Tôi sẽ làm phim Trung Quốc ở Trung Quốc. Phim Trung Quốc cho người Trung Quốc, kể cả người Trung Quốc ở hải ngoại. Nó sẽ ăn khớp trong việc thu hình bởi vì tôi không thích lồng tiếng.

P: Sao anh chỉ làm cho người Trung Quốc?

L: Vì tôi là người Trung Quốc (^^) Tôi thích làm những phim điện ảnh ý nghĩa cho người Trung Quốc.

P: Chúng tôi, không phải người Trung Quốc, có xem nó được không?

L: Dĩ nhiên, không vấn đề gì. Điện ảnh là ngôn ngữ từ toàn cầu và mọi người đều có thể hiểu nó, dù nó được làm cho người Trung Quốc. Cũng giống như xem những bộ phim nổi tiếng. Chúng có thể mang những đặc trưng riêng của quốc gia nhưng bạn vẫn hiểu được chúng.

P: Anh vẫn không đồng ý với việc những diễn viên HK sang Hollywood?

L: Zettai zettai dame! (Anh ấy nói tiếng Nhật, nó có nghĩa là không hoàn toàn tốt). Hollywood đòi hỏi các diễn viên KH diễn xuất. Nhưng cơ bản họ không hiểu nền văn hóa Á Đông. Tôi cảm thấy xa lạ với người Châu Á trong phim Hollywood. Họ không hòa nhập với văn hóa Hollywood. Đó chính là sự khác biệt văn hóa. Tom Cruise ở HK hay phim của những Châu Á khác cũng không thể hòa hợp.

Tôi có chỗ đứng trong làng điện ảnh HK. Tôi không muốn đến Hollywood. Nếu tất cả các ngôi sao HK đều đến Hollywood, ai sẽ ở HK? Vì thế tôi nhấn mạnh tôi muốn làm phim Trung Quốc cho người Trung Quốc. Trung Quốc ở đây bao gồm cả Châu Á.

P: Hãy cho chúng tôi biết về “Dị độ không gian” và “Thanh gươm của San Xiaoye”

L: Tôi đã chính thức từ chối đóng “Thanh gươm của San Xiaoye”. Khi tôi bắt đầu làm phim của mình, tôi không còn đủ thời gian cho bộ phim này nữa.

Về “Dị độ không gian”, tôi có rất nhiều điều để kể. Đạo diễn của nó là La Chí Lương Tôi đã đóng ba phim của anh, “Sắc tình nam nữ”, “Thương Vương” và “Dị độ không gian”. Anh ấy là một trong những thế hệ đạo diễn mới của HK. Anh thật sự là người có tài và đáng tin cậy. Anh luôn giao cho tôi những vai diễn khác nhau. Những đạo diễn khác, có lẽ vì yêu cầu thị trường, luôn để tôi đóng một dạng vai. Tôi chẳng thích thú chút nào.

P: Vì vậy mà anh chọn phim thay vì chú trọng đến là diễn xuất, như phim “The Kid” hay “Thương Vương”?

L: Khi diễn, tôi không thể hiện mình là ngôi sao. Khán giả mới là người quyết định ngôi sao hay không, nhưng tôi nghĩ một khi đã được công nhận như một ngôi sao, anh phải là ngôi sao mãi mãi. Tôi sẽ thể hiện cảm xúc, tình cảm và tất cả những gì trong vai diễn của tôi. Một người diễn viên giỏi phải làm cho khán giả thấy được tính nghệ thuật. Không cần chú trọng quá đến trang phục lộng lẫy hay diễn xuất. Nhưng phải hiểu vai diễn và diễn bằng cả trái tim.

P: Là một diễn viên, có bao giờ anh cảm thấy thỏa mãn chưa?

L: Tôi đóng rất nhiều phim, một số vai được đánh giá tốt và một số thì không.
Diễn viên là những người rất phi thường. Có thể đi xuyên qua thời gian trong những phim lịch sử. Vì thế diễn xuất thật thú vị.

Thật ra, diễn viên là một công việc khó khăn. Đôi khi chúng tôi phải làm việc suốt mấy đêm liền. Vì thế được nhận giải thưởng là niềm vui lớn với tôi. Diễn xuất của tôi được ca ngợi! Nỗ lực của tôi được ghi nhận! Không ai hiểu được tôi hạnh phúc thế nào đâu. Tôi cảm thấy hạnh phúc tột cùng khi được tham gia Liên hoan Phim Quốc tế lần đầu tiên. Tôi nhận ra thế giới thật to lớn. Tôi đã làm quen được rất nhiều nhà làm phim ở đó.

Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời. Hơn thế nữa, khi là một diễn viên, tôi có thể đi khắp nơi miễn phí. Có rất nhiều nơi bạn không thể đi, dù bạn có rất nhiều tiền. Chẳng hạn tôi đến sa mạc để đóng phim “Cát bụi thời gian”. Tôi thật sự kích động!

Tại sao tôi muốn trở thành đạo diễn ư? Bởi vì diễn viễn thể hiện những số phận khác nhau và đạo diễn quyết định số phận của họ. Tôi muốn đổi vai trò ngược lại. Đạo diễn quyết định mọi thứ liên quan đến bộ phim. Nếu bộ phim được ca ngợi hay đoạt giải, đạo diễn là người hạnh phúc nhất.

Đạo diễn chịu trách nhiệm tất cả về bộ phim cũng như cộng sự của mình. Thật ra làm phim không chỉ để vui. Là một đạo diễn, tôi muốn mọi người tậm tâm với công việc. Tôi hy vọng tất cả thành viên hài lòng với bộ phim và nó trở thành những ký ức tốt đẹp.

Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là khán giả cảm thấy thích thú và nghĩ về bộ phim với sự trân trọng. Vì thế tôi muốn trở thành đạo diễn.

Trong quá trình thực hiện, tôi buộc mình nghĩ rằng bộ phim này là cơ hội duy nhất. Không nên nói để phim sau. Đó chỉ là cái cớ! Chúng ta phải tập trung vào nó như thể cơ hội chỉ một lần.

Một đạo diễn giỏi nên giải thích cốt truyện cho diễn viên và cộng sự. Một đạo diễn giỏi là một người kể chuyện hay. Nếu cộng sự hoặc diễn viên không đồng ý với câu chuyện, chúng ta không thể đồng lòng. Tôi không thể tiếp tục nếu một ai dó liên quan đến bộ phim nói vậy

Tôi không thể giải quyết hết tất cả các vấn đề. Khán giả có thể xem cả nhưng vấn đề không giải quyết được.

Nhưng đừng viết rằng Leslie sẽ làm phim nghệ thuật. Tôi biết phim của tôi có thể là phim thương mại. Theo kinh nghiệm của tôi, tôi nghĩ ngay cả những phim thương mại cũng có những cảnh nghệ thuật. Tôi hy vọng phim thương mại với những cảnh nghệ thuật vẫn được đánh giá tốt. Vì vậy tôi không nói rằng tôi đang làm phim nghệ thuật. Nếu một đạo diễn nào nói thế, tôi không nghĩ ông ta là đạo diễn lớn đâu.

Dĩ nhiên tôi kỳ vọng nhiều về bộ phim đầu tay của mình. Cốt truyện được dẫn dắt tốt, dễ hiểu. Tôi sẽ thể hiện quan điểm của mình thông qua hình ảnh. Tôi muốn truyền tải cảm xúc của tôi và cảm xúc của câu chuyện đến khán giả.

P: Tháng tư trước, anh nói, “Tôi sẽ không tổ chức hòa nhạc trong thời gian dài tới”, anh không thay đổi ý định phải không?

L: Thật ra, nhà tổ chức ở Nhật Bản đã đặt hàng một buổi biểu diễn ở Nhật vào năm tới. Nhưng hiện nay tâm trí tôi đang hướng về điện ảnh, chứ không phải là âm nhạc (^^). Tôi biết tôi không thể làm nhiều việc cùng một lúc. Bây giờ tôi để mình tập trung vào việc đạo diễn.

Dĩ nhiên, tôi sẽ phát hành một album theo hợp đồng với Universal. Nhưng tôi không thể thực hiện nó trong lúc đang làm phim được. Bây giờ tôi không có cảm hứng âm nhạc nào cả.

P: Xin lỗi, nhưng anh có thể cho phép tôi hỏi về âm nhạc được không?
Tại mỗi buổi biểu diễn, anh luôn tạo một thế giới đẹp đẽ của riêng mình. Vậy cảm hứng cái đẹp đến từ đâu?

L: Tất cả chúng đến từ phim ảnh. Như bạn biết đó, tôi là người biên tập của buổi biểu diễn. Phim ảnh và vẻ đẹp trên sân khấu rất giống nhau. Tôi tạo ra những hiệu ứng thị giác trong buổi biểu diễn của mình.

Có hai kiểu ca sĩ, một chỉ là nghệ sĩ biểu diễn và một là những người biết làm thế nào để dàn dựng buổi biểu diễn. Dĩ nhiên, tôi thuộc loại sau. Bạn có thể đánh giá được chất giọng và tính cách của những nghệ sĩ biểu diễn rất dê dàng. Như bạn thấy, các buổi biểu diễn của tôi có rất nhiều điểm nhấn. Tóc dài hoặc những bộ trang phục của Jean Paul Gaultier hoặc giày cao gót đỏ và một số thứ khác. Tất cả chúng dùng để kích thích thị giác.

Những bộ trang phục của Jean Paul Gaultier cũng đến từ điện ảnh. Gaultier thích “Bá Vương biệt Cơ” và “Hạnh phúc bên nhau”, nhờ thế mà tôi có thể làm việc với một người nổi tiếng trong làng thời trang. Với tôi, âm nhạc và điện ảnh, cả hai đều quan trọng.

P: Anh có thể cho biết thể loại âm nhạc hoặc nghệ sĩ nào anh thích nhất?
L: Thực tế, CD kế tiếp là một sự kết hợp với Anthony Wong. EP với 6 bài hát. Sẽ được phát hành vào tháng 4 hoặc 5.

Mùa đông năm ngoái, Universal đã thu âm “Tong Bou Guo Tong”. Rất nhiều DJ thích nhạc của chúng tôi. Vì vậy mới có sự cộng tác này. Anthony và tôi đã thể hiện dòng nhạc của mình một cách nghiêm túc và có trên 10 năm kinh nghiệm. Hai chúng tôi có những tính cách riêng nên sự kết hợp của chúng tôi có thể gây ra những tranh cãi. Chúng tôi chắc chắn sẽ làm được điều đặc biệt. Nó sẽ là một sản phẩm đặc sắc.

P: Cuối cùng, hãy chọn ra một số bài hát anh thích nhất trong tất cả các bản nhạc của anh?

L “Phong kế tục xúy" (Wind blows on) là bài hát của Momoe Yamaguchi. Tôi thường nghe bài hát này khi tôi còn là sinh viên. Vào lúc đó, nhạc Nhật ảnh hưởng rất lớn đến các ca sĩ HK. Trước 90, tôi phát hành “SALUTE”. Tôi đặc biệt thích “Đương Niên Tình” (nhạc nền trong phim “A Better Tomorrow 1”) và “Minh Tinh” (Sao sáng). “Red” là một album sáng tạo và đó là những bài tối thích.

Bài hát thứ 4 là nhạc nền của “Bạch Phát Ma Nữ”. Tôi đã học cách làm thế nào viết nhạc nền và sáng tác. Bản nhạc đã đoạt giải. Nói về nhạc nền, tôi rất thích bài “Truy" (Chase).

Tất cả chúng đều thuộc thể loại ballade. Với nhạc nhanh, tôi thích bài “Đại Nhiệt".

P: Thế còn nhạc của các ca sĩ khác?

L: “Ming Xing” in “SALUTE”. Mỗi lần nghe bài hát này, nó đều để lại cho tôi những dấu ấn khác nhau. Tôi rất thích hát bài này tại buổi biểu diễn. “Chase” cũng vậy. Mỗi lần hát, cảm xúc của tôi khác nhau. Tôi càng lúc càng thích bài này. Riêng về thị giác, tôi thích “Dai Yit”. Nó gây ấn tượng với khán giả cùng với mái tóc dài tung bay tại Passion Tour.

Tôi thích bài “Ánh Trăng nói hộ lòng tôi” của Đặng Lệ Quân. Tôi thích cảm xúc trong bài hát. Lệ Quân là một con chim sơn ca với phong cách hát rất riêng. Âm nhạc của cô mang bình yên đến cho người nghe.

Và “Sorry seems to be the hardest word” của Elton John. Bản nhạc này rất lãng mạn nhưng buồn. Elton John thể hiện rất tài ở thể loại này và là một nhà ca – nhạc sĩ vĩ đại.

------------

Lời kết

Chúng tôi biên tập lại lời của anh cho dễ hiểu vì đôi lúc câu trả lời của anh bị trùng lắp. Có lẽ anh muốn nhấn mạnh. Hoặc anh đã không trả lời câu hỏi của chúng tôi. Anh muốn biểu lộ suy nghĩ của anh theo cách khác. Khi nói đến sự say mê của mình đối với nghề đạo diễn, không gì có thể ngăn anh ngừng lại.

Anh là nghệ sĩ đầu tiên nói lên suy nghĩ của mình với một cảm xúc mãnh liệt. Anh là một nghệ sĩ hiếm hoi thật sự coi trọng điện ảnh, nghề đạo diễn và diễn viên. Chúng tôi đã lắng nghe anh quên cả thời gian.

Về Hollywood, chúng tôi có thể đoán được câu trả lời của anh. Tuy nhiên chúng tôi không dám hỏi.

Chúng tôi thích nghe anh nói về tình cảm của anh đối với HK và Châu Á. Khi anh nói Zettai Dame bằng tiếng Nhật, tôi hầu như xúc động đến rơi lệ.

Leslie yêu Hong Kong, yêu Trung Quốc và Châu Á. Leslie Cheung (Trương Quốc Vinh) là niềm kiêu hãnh của Châu Á!


Pop Asia số 41 (2002)
V-trans: greendoor @DAN

Phỏng vấn: All About Leslie

All About Leslie

Trích PhotoBook 1999
Bài đầy đủ xem tại đây: LINK1 & LINK2


Tình yêu và Hôn nhân.


“Hãy nói về bản thân anh đi. Mọi người thường nghĩ anh là một “Người đàn ông bí ẩn” và cho là sức quyến rũ của anh phát ra từ đó … ?”

“Tôi cho đó là vì tôi thường ít cung cấp thông tin về bản thân, và tôi luôn muốn được giữ gìn sự riêng tư của mình. Nhưng nó cũng không có nghĩa là tôi đang giấu diếm mọi người đâu. Đó là lý do vì sao tôi mờ tiệm cà phê, một nơi để tôi gặp gỡ các fan, là nơi họ có thể xin chữ ký và chụp hình với tôi một cách thoải mái. Cánh cửa của tôi luôn luôn mở rộng. Nhưng mặt khác tôi cũng không muốn cởi mở hết cuộc sống riêng của tôi. Mọi người đã từng hỏi tôi “Sao cậu chưa kết hôn đi ?”. Tôi nghĩ đó là vấn đề rất riêng tư và tôi không bắt buộc phải trả lời.

“Nhưng fan của anh rất háo hức đựơc biết mà. Tại sao một người đàn ông quyến rũ như anh lại không muốn kết hôn chứ ?”

“Thật hả ? (cười to). Thẳng thắn mà nói tôi không tin vào hôn nhân. Các anh chị em tôi đã li dị. Ba mẹ tôi cũng không thuận hòa với nhau. Có lẽ tôi sẽ không kết hôn đâu nhưng tôi muốn có một căn nhà của riêng tôi, một nơi để nghỉ ngơi, nơi tôi có thể trang hòang mọi thứ cho nó như ý tôi thích.”


Với cương vị là “Ngôi sao”


“Trong các buổi hòa nhạc và bộ phim của anh như “Farewell to My Concubine” và “Happy Together” anh đã biểu lộ ra sức hấp dẫn “chệch khỏi giới tính” của anh với khán giả, có phải anh đang cố đưa ra một thông điệp nào đó ?”

“Không, không có gì liên quan cả đâu. Khi Trần Khải Ca mời tôi tham gia “Farewell to My Concubine” ông đã nói rằng tôi trước đó toàn dự tuyển cho các vai diễn thuần chất. Ông muốn nhìn nhận tôi như một diễn viên nghiêm túc thực sự và nghĩ tôi có thể thử đảm nhiệm một vai nữ tính hơn.”

“Như trong “Happy Together”, đồng tính luyến ái vào thời điểm đó đang là một đề tài nóng bỏng tại Hong Kong. Tôi nghĩ có lẽ sẽ rất thú vị nếu tôi đóng một vai đồng tính. Và trong buổi ca nhạc, tôi muốn tạo ra một chút gì đó gây hưng phấn. Ý tưởng đi trên đôi giày cao gót đỏ là của một đạo diễn nghệ thuật. Nó bắt nguồn cảm hứng từ David Bowie đã làm điều này nhiều năm trước. Anh ấy nghĩ đó hẳn là một ý tưởng hay nếu chúng tôi đưa hình ảnh này vào châu Á. Thực ra tôi muốn tạo một hình thức nào đó liên quan đến Kinh kịch nhưng gặp phải vấn đề rắc rối về hóa trang và việc thay trang phục. Vi vậy tôi nghĩ đến điều gì khác có liên quan đến ca khúc “Red”, như việc tô son môi chẳng hạn. Nhưng những khán giả ở quá xa sân khấu có lẽ sẽ không nhìn rõ được. Vì vậy, cuối cùng nó đã được dàn dựng với đôi giày cao gót đỏ và son môi màu đỏ.”

“Trong các buổi hòa nhạc và một số phim của anh, anh cho chúng tôi cảm giác là anh ích kỷ và đôi khi tự yêu bản thân mình quá. Anh nghĩ sao về điều này ?”

“Vâng, tôi đồng ý là tính cách một số vai diễn của tôi thực sự là rất thích bản thân mình trở thành trung tâm. Còn với bản thân tôi, tôi có thể nói gì nhỉ … (một khoảng im lặng dài). Tôi luôn muốn đem đến cho khán giả những điều tốt nhất mà tôi có thể làm được, dù đó là buổi hòa nhạc hay bất cứ bộ phim nào. Nhưng khi đã rời bỏ công việc, tôi thực sự không quan tâm lắm đến vẻ bề ngoài của mình. Bạn sẽ không tìm được tấm hình nào của riêng tôi tại nhà tôi đâu, và tôi cũng hiếm khi soi gương.”

“Nhưng sự thật là anh trông rất bảnh trai . Khi nhìn bản thân mình trong gương, anh nghĩ gì ?”

“Wow, một anh chàng mới bảnh làm sao!”, anh phá lên cười lớn . “Không, tôi đùa đấy. Tôi không nghĩ tôi có thể nhận xét về ngoại hình của mình đâu. Tôi đã quá quen với nó rồi.”

“Ngày trước, tôi từng bị cho là “lạnh lùng” hoặc “kiêu ngạo” vv. Thực ra tôi là người thắng tính và khá nhiệt tình. Có lẽ chính điều này đã đem đến nhiều rắc rối. Nhưng không có gì liên quan đến việc tự yêu bản thân mình ở đây cả.”

“Mọi người thường miêu tả anh là “dễ thương”, “bảnh bao”, “sexy”, anh thích từ nào nhất ?”

“Nếu là fan, tôi sẽ thấy rất vui vì những lời nhận xét này, nhưng nếu là bạn, tôi không thấy thích lắm nếu họ chỉ quan tâm đến vẻ ngoài của tôi đâu.”

“Vậy thì anh thích được gọi như thế nào ?”

“ “Chàng trai tốt”, tôi nghĩ vậy nghe hay hơn.”

“Anh là một “Ngôi sao” trong mắt của chúng tôi, liệu “Ngôi sao” đây là vai trò anh đóng hay đó là con người thật của anh ?”

“Thực là một câu hỏi khó ! Trước đây tôi chưa từng nghĩ nhiều về điều này. Tôi không nghĩ là tôi đang đóng vai nào cả. Có lẽ nên nói đó chính là con người thật của tôi. Tôi, bản thân tôi, và Leslie – một diễn viên luôn hòa hợp với nhau. Tôi phải nói rằng tôi có những phẩm chất và đủ tài năng để trở thành một ngôi sao.”

“Giống như kính vạn hoa, một con người có rất nhiều mặt trái ngược nhau. Nhưng giới truyền thông và khán giả chỉ có thể nhìn ra một phần nhỏ của chúng ta thôi. Họ sẽ phán xét những gì họ nhìn thấy, đôi khi họ bị ấn tượng sai. Fan hâm mộ thích liên tưởng với thần tượng bằng các câu chuyện thần tiên cổ tích và giới truyền thông thì luôn có khuynh hướng phóng đại và thêm mắm dặm muối vào các bài viết, tiêu đề.”

“Là một siêu sao ắt hẳn anh phải chịu rất nhiều áp lực nặng nề, anh thường làm cách nào để giảm bớt căng thẳng ?”

“Anh phải học cách để thư giãn. Tôi thích đi du lịch. Tôi sẽ đến nơi mà không ai biết đến tôi. Một trong những liệp pháp yêu thích của tôi trong những ngày này là “hot springs” . (giống 1 kiểu spa ấy nhỉ)”

“Anh có tiếng tăm, tiền bạc, vẻ điển trai, sức quyến rũ và vị thế. Đó là giấc mơ của tất cả mọi người, có điều gì anh cho là anh chưa đủ tốt không ?”

“Có lẽ là học vị của tôi”, anh nói sau một sự im lặng ngắn. “Tôi rất hy vọng có thể hoàn tất việc học đại học, va nếu có thể, lấy được bằng tiến sĩ. Có quá nhiều thứ để học từ trường lớp.”


Với cương vị “Một diễn viên”


“Anh có thích xem đi xem lại các bộ phim của anh nhiều lần không, hay là anh ít khi xem chúng ?”

“Tôi nghĩ là vế sau đấy. Mỗi khi tôi xem lại một bộ phim, tôi cứ luôn tự phê bình lối diễn của tôi là “chưa đủ tốt”, hoặc “đáng lý ra có thể làm hay hơn”. Vì khi đang diễn, tôi sẽ đắm chìm bản thân vào nhân vật và không thể đánh giá một cách khách quan. Việc phạm lỗi là không thể tránh khỏi. Dù gì đi nữa thì cũng không thay đổi lại được rồi.”

“Trong các nhân vật anh đã đóng, có vai nào mà anh nghĩ là “Nó thật hoàn hảo!” không ?”

“Không.”, anh nói không hề do dự. “Tôi luôn nghĩ tôi có thể diễn hay hơn nếu tôi có được cơ hội thứ hai.”

“Anh đã có nhiều bước tiến vượt bậc trong khả năng diễn xuất của mình, đặc biệt trong thể loại tâm lý lãng mạn, đó có phải là vì anh đã trải nghiệm qua nhiều điều trong cuộc sống hay đó là nỗ lực tự thân anh ?”

“Thật hả, tiến vượt bậc trong phim tình cảm hả (cười) ? Sự trải nghiệm từ cuộc sống đương nhiên là giúp ích rất nhiều. Nhưng quan trọng hơn là anh cần phải luyện tập thường xuyên. Như việc tiết kiệm tiền trong ngân hàng vậy, rồi sẽ có ngày anh giàu thôi. Đương nhiên, bên cạnh phải làm việc chăm chỉ vẫn còn có nhiều yếu tố khác nữa, như tôi nói, một đạo diễn có khả năng truyền cảm hứng chẳng hạn.”

“Anh có một phong cách độc nhất vô nhị mà chúng tôi có thể nhận ra anh ngay từ phía sau lưng, anh luyện tập nó mỗi ngày hay đó là phong cách tự nhiên của anh ?”

“Tôi chỉ thể hiện bản thân một cách tự nhiên thôi. Khi diễn, tôi không nghĩ tới việc có rất nhiều lý thuyết về việc diễn xuất. Một vài nam nữ nghệ sĩ nghĩ là họ trông đẹp nhất ở một vài góc độ nào đó nhưng tôi không thích thế. Tôi chỉ muốn được thật tự nhiên, như những gì tôi vẫn làm hàng ngày.”

“Khi làm phim, có rất nhiều shot phải làm đi làm lại rất nhiều lần. Thường tốt nhất là tôi vẫn diễn cùng một kiểu cho thống nhất và để dễ cắt dựng, nhưng đôi lúc nó khiến tôi cảm thấy nhàm chán. Những lúc ấy, tôi sẽ thử một cách diễn khác để tạo ra những take quay khác hơn.”

“Mặc dù vậy vẫn có sự khác biệt giữa các diễn viên “giỏi” và “chưa giỏi lắm” chứ.”

“Các diễn viên giỏi là những ngừơi có “tài năng” và sở hữu những kỹ năng diễn xuất xuất sắc. Họ có phong cách riêng đặc sắc. Bạn sẽ không nghĩ là họ “đang diễn” mà sẽ đối xử với họ như chính bản thân các nhân vật họ diễn. Các diễn viên trung bình thừơng có nghĩa là những người không thật tài năng lắm, và họ thường không thích được thử thách. Vì lý do đó mà các vai diễn của họ không “tốt” cũng chẳng “tồi". Không ngạc nhiên gì nếu họ chẳng gây được ấn tượng nào cả. Đôi khi họ chỉ copy lại từ những người khác.”

“Dường như các bạn diễn nữ của anh càng ngày càng trẻ hơn, anh có cảm thấy một khoảng cách chênh lệch giữa hai thế hệ không ?”

“Có, tôi có thấy thế (cười to). Thẳng thắn mà nói, dạo này tôi thấy mình giống như một gia sư hơn là một bạn diễn. Nhưng lý do là vì sự thực tôi trông trẻ hơn tuổi. Nó sẽ trông không hợp nữa nếu tôi diễn cùng các nữ đồng nghiệp trạc tuổi với tôi.”


Các bộ phim


“Trong các nhân vật anh từng diễn, vai nào là khó nhất ?”

“Tôi nghĩ đó là Hà Bảo Vinh trong Happy Together. Vào thời điểm quay phim đó, tâm trạng tôi không tốt, lại còn phải chuẩn bị cho buổi hòa nhạc. Vương Gia Vệ không có kịch bản nào và chúng tôi đều làm việc với nhau trong một thời gian biểu rất khắt khe. Và cũng nảy sinh vài rắc rối nữa. Họ Hà là một nhân vật khó chịu dễ khiến người ta ghét. Vì vậy tôi đã thêm một chút gia vị vào nhân vật này để họ Hà trở nên khá hơn chỉ là một gã tồi tệ. Dẫu sao đi nữa, dù cho tôi có đóng đạt thế nào, tôi cũng đã khá lo lắng về phản ứng của người xem đối với nhân vật này.”

“Anh đã khắc họa thành công vai diễn Hà Bảo Vinh, đó là lý do vì sao anh được đề cử cho giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của Giải thưởng phim HK và giải Kim Mã đấy.”

“Tôi cũng có chút ngạc nhiên. Tôi không ngờ là tôi đủ điều kiện để được liệt vào hạng mục “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất” vì vai diễn của tôi đâu phải là vai chính.”

“Vậy ý anh là anh xứng đáng với hai giải cho Days of Being Wild Ashes of Time ?”

“Tôi không nói vậy. Nếu anh hỏi tôi bộ phim nào của tôi xứng đáng được trao giải thưởng, tôi sẽ nói đó là Farewell to My Concubine. Nó đã thắng giải Cannes và nhận được sự công nhận rộng rãi bởi các nhà phê bình lẫn khán giả tại Nhật.”

“Vây so sánh với Hà Bảo Vinh của Happy Together, việc nắm bắt được tâm lý nhân vật Trình Điệp Y trong Farewell to My Concubine là dễ dàng hơn đối với anh sao ?”

“Vâng. Tôi thích nhân vật của Farewell to My Concubine. Trình Điệp Y đã hiến dâng cả cuộc đời của anh ấy cho nghệ thuật, là người trung thành với tình yêu của mình. Tôi có thể đồng cảm với những cảm xúc của anh ấy. Điều khó khăn duy nhất đối với tôi là việc học thoại Bắc Kinh và những động tác diễn Kinh kịch tôi cần phải thành thạo trong một thời gian ngắn. Dù sao đi nữa, đây cũng là một bộ phim đáng nhớ.”

“Trong He’s a Woman, She’s a Man, anh đóng vai Sam Koo, một nhà sáng tác nghệ thuật, hầu hết các fan đều cho rằng anh đã trở thành chính nhân vật anh diễn đó.”

“Không, tôi không phải là nhạc sĩ ngay từ buổi ban đầu hay có thể chơi piano. Điều khiến chúng tôi có vẻ giống nhau có lẽ đó là phong cách sống, và trong một chừng mực nào đó chúng tôi đều rất cứng đầu . Và tôi cũng sợ đến phát run lên nếu tôi bị kẹt trong thang máy tối hù như thế. Đó là phản ứng thật của tôi trong bộ phim.”

“Ôi, thật hả, hèn gì trông nó lại thật đến như thế. Nhưng kể cả khi tôi đang nói chuyện trực tiếp với anh như thế này đây, mặt đối mặt, tôi cũng phải nói anh và Sam rất giống nhau.”

“Tôi lại nghĩ Sam giống Peter Chan, đạo diễn của bộ phim hơn.”


Các đạo diễn


“Anh đã làm việc với Trần Khải Ca trong hai phim Farewell to My Concubine Temptress Moon, tôi nghĩ là ông đánh giá cao tài năng của anh lắm đấy.”

“Vâng, ông ấy thích làm việc với tôi lắm. Bộ phim gần đây của chúng tôi Temptress Moon có kịch bản là được đo ni đóng giày cho tôi.”

“Tôi nghe nói anh từng được tuyển cho bộ phim gần đây của ông Trần “The Emperor and the Assassin” (Quân vương và Ái thiếp) ?”

“Vâng. Nhưng nó diễn ra đúng vào tour diễn quốc tế của tôi, và phim lại dự định được quay trong suốt một năm liền. Bên cạnh đó, “quân vương đầu tiên”, vai diễn tôi được tuyển, phù hợp với hình tượng cao to và cơ bắp hơn trong mắt của ngừơi dân Trung Quốc, vốn dĩ nó rất khác với ngoại hình của tôi.”

“Trong các bộ phim của Vương Gia Vệ và Từ Khắc, anh thường khắc họa các hình tượng hoàn toàn khác, đó có thể là vì họ có những ấn tượng khác nhau về anh không ?”

“Có thể họ nhìn nhận tôi ở những góc độ khác nhau. Nó cũng còn tùy vào kịch bản nữa, nội dung của các bộ phim luôn khác nhau mà. Thế giới trong phim của Vương là tách ly, độc nhất và không thực. Thậm chí ngay khi không gian bối cảnh và thời gian có khác nhau, các nhân vật dường như luôn giống nhau. Còn với Từ Khắc, ông thích đem những lý tưởng chính trị của ông vào phim, ở đó luôn có những hy vọng và một tương lai sáng lạn.”

“Trong bộ phim gần đây nhất của anh, chúng tôi đã có được thông tin rất đáng ngạc nhiên là anh không cần đến chỉ dẫn hay giải thích từ đạo diễn mà vẫn diễn tốt, việc này có thừơng xuyên không ?”

“Về căn bản thì đúng vậy, đó là lý do vì sao có một số đạo diễn khi mới khởi đầu cảm thấy khó khăn, vì trong quan điểm của họ cho rằng diễn viên càn phải nghe theo mọi hứơng dẫn từ đạo diễn. Nhưng sau khi đã làm việc với nhau một thời gian, họ sẽ đồng ý cách tôi nắm bắt vai diễn là hợp lý và ít khi chỉnh sửa lại diễn xuất của tôi. Dĩ nhiên thỉnh thoảng chúng tôi cũng có ý kiến trái chiều và không đồng ý với nhau. Nhưng chúng tôi đều có chung một mục tiêu, đó là làm ra được một bộ phim hay và tôi luôn cố làm tốt hết sức mình trong mọi phim tôi tham gia.”

“Trong trường hợp này, ý anh là anh không cần đạo diễn ?”

“Không, điều ấy sao được. Tôi cần những lời khuyên thấu đáo và chuyên nghiệp từ một “người thứ ba”, cái “người thứ ba” ấy chính là đạo diễn. Mặc dù chúng tôi có thể những ý kiến bất đồng nhau, nhưng điều đó cũng không là vấn đề gì, vì đôi khi nó lại cần thiết và tốt cho một bộ phim hay trong tương lai.”

“Tôi tự thấy bản thân mình rất may mắn khi được làm việc chung với thật nhiều các đạo diễn xuất sắc như Ngô Vũ Sâm, Trần Khải Ca, Vương Gia Vệ, Peter Chan và Jacob Chang. Tôi nghĩ chắc chẳng còn điều gì có thể khiến tôi vui hơn việc họ đều nhìn nhận tôi là một diễn viên giỏi.”

“Dù sao đi nữa, một bộ phim có tốt hay không đều phụ thuộc phần lớn vào kết quả của người đạo diễn. Một bộ phim nó cũng giống như một kho báu mà đạo diễn chính là chìa khóa. Anh có lấy được kho báu đó không là tùy thuộc vào đạo diễn. Vì vậy, mục tiêu tiếp theo của tôi là sẽ trở thành đạo diễn.”


Kế hoạch tương lai


“Anh đang lên kế hoạch đạo diễn phim của mình ?”

“Vâng, nhưng tôi vẫn chưa quyết định nội dung của bộ phim đâu.”

“Ai sẽ vào vai nữ chính ? Anh đã có sẵn cái tên nào trong đầu chưa ?”

“Mạc Văn Úy và Thư Kỳ. Họ đều là các diễn viên trẻ triển vọng.”

“Fan hâm mộ của anh đang lo rằng nếu anh trở thành đạo diễn anh sẽ không còn làm ngôi sao trên màn bạc nữa, anh tính thế nào về các vai trò đạo diễn, diễn viên và ca sĩ của anh đây ?”

“Tôi nghĩ tôi sẽ có một thời gian biểu ca hát đều đặn, ra một hoặc hai album một năm để tôi vừa thỏa niềm đam mê ca hát, vừa làm hài lòng các fan.”

“Tôi sẽ không diễn trong hai bộ phim đầu tay của mình đâu, chỉ chỉ đạo thôi. Nhưng khi tôi đã lên tay và bắt kịp nó, tôi sẽ xem xét đến việc đồng thời diễn xuất luôn, giống như là Robert Rafford vậy đấy.”

“Vậy thì bọn tôi đỡ lo rồi. Trong các bộ phim anh đã từng xem, trừ các phim HK, có vai diễn đặc biệt nào khiến anh hứng thú và muốn diễn nó không ?”

“Trong phim “A Few Good Men” Jack Nicholson đóng vai một gã vừa đáng tởm lại vừa tốt bụng. Tôi nghĩ vai diễn đó khá là thú vị đối với tôi.”

“Vậy những vai khác thì sao, chẳng hạn như một họa sĩ đồng tính thật đặc biệt ?”

“Không, tôi không thích đâu.” (cười lớn)

“Có loại vai nào anh nghĩ mình không tài nào diễn được không ?”

“Các vai của Thành Long đó.” (cười lớn)

“Có người nói là anh sẽ không đóng phim hài nữa, điều đó có đúng không ?”

“Không, tôi thích phim hài mà. Không phải là ý kiến tồi đâu nếu tương lai tôi sẽ tự tay đạo diễn một phim hài của mình.”

“Anh có thể nói cho tôi đôi điều về vở nhạc kịch “A Chinese Ghost Story” không ?”

“Tôi thích làm việc trong không gian âm nhạc. Đó là một thử thách với tôi. Nó đem đến cho tôi thêm niềm hạnh phúc nếu như nó thành công. Tôi chọn “A Chinese Ghost Story” vì chúng ta có thể có rất nhiều góc độ hiệu ứng hình ảnh khai thác được với câu chuyện đó. Một vở nhạc kịch chính là sự kết nối giữa hình ảnh và âm thanh, chúng bổ trợ cho nhau mà …”


Hết

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Ashes of Time Redux

Một góc nhìn lý giải về
Ashes of Time Redux - Tro tàn của Thời gian


Viết bởi heobeo @dienanh.net

***

Những tiếng đàn dây réo rắt ai oán, những nhịp trống dồn dập như thôi thúc lòng người, tiếng tù và xen tiếng cello ảo não thảm sầu vang vọng trong cõi hư vô …

Và cả sắc vàng – cái thứ sắc vàng đến gai người, thứ màu sắc của thời gian phủ trùm lên mọi vật trên nền sa mạc cháy bỏng, ánh vàng của mặt trời, màu vàng của nến đèn lửa, màu vàng của khói, của cỏ tranh, của da người đang sống, của những thây ma chết chìm trong cát, lấp lánh trong từng gợn sóng của một buổi tà dương, và … cũng vàng vọt vương sầu trong đáy mắt ai.


Tất cả, tất cả đều làm nên cái âm hưởng chung cho Ashes of Time, Tro tàn của thời gian – một kiệt tác kỳ lạ với những khuôn hình, góc máy như ảo ảnh, mơ hồ thúc giục trái tim của người xem tìm đến với cõi miền của sự đa cảm.

Nhưng cái sức hấp dẫn làm nên Ashes of Time nó không phải chỉ dừng lại ở đấy. Nếu ví nó như một bức họa, Ashes of Time sẽ là một bức họa ghép hình đa chiều mà mỗi một mảnh ghép lại đem đến một ẩn số luôn đau đáu cần được lời hồi đáp.

Xin nói luôn rằng ở đây người viết chỉ muốn đề cập đến bản Redux vừa được trình chiếu lại vào năm 2008, bản 1994 nếu có dịp sẽ so sánh sau. Mặc cho đã có nhiều ý kiến thiếu thiện cảm nhắm vào đạo diễn Vương Gia Vệ, cho rằng ông ngông cuồng khi quyết định dựng lại tác phẩm kinh điển này của mình - giống như một sự chơi trội vốn mạo hiểm thắng ít bại nhiều trong làng điện ảnh thế giới - thì Ashes of Time Redux vẫn lôi kéo được sự chú ý của nhiều ngòi bút quốc tế và là một bản redux đáng xem (dù phần màu kỹ thuật số và âm thanh mới đã làm giảm đi tính dữ dội của bản gốc). Lý do của ông cũng thực tế hơn mọi người vẫn tưởng : Phần âm bản gốc của bản phim 1994 đã bị hư hại, nếu không dựng lại thì ông đành phải đứng nhìn Ashes of Time bị gạt sang lề của lịch sử.

Có một điều là Vương Gia Vệ đã trở thành một trong những nhân vật thú vị nhất của nền điện ảnh đương đại trong vòng 20 năm qua, đó là bởi dường như ông không có chút hứng thú nào với cách kể chuyện truyền thống của phim ảnh. Ông là một nhà thí nghiệm ngông ngạo trong căn phòng “hóa học” của nghệ thuật thứ bảy, một nhà thí nghiệm mân mê với đủ cách thức pha trộn và chỉ quăng bỏ ống nghiệm, xem xét và hoàn thiện lại tác phẩm của mình khi đã kiệt sức hay rỗng túi. Lối làm việc của ông lạ đời, một dạng sáng tạo lại hình thức của phim ảnh. Có lẽ vì vậy nên Ashes of Time cũng mang nét lạ đời ấy, một phim kiếm hiệp chẳng giống với bất kỳ ai !


Nội dung :

Nội dung của Ashes of Time nói cho cùng rất khó hấp dẫn người xem, đặc biệt là đối với lớp đối tượng mê phim kiếm hiệp thuần túy. Nó là cuộc hành trình trở về với cội nguồn nhận thức những lỗi lầm, bi kịch và ngang trái của bản thân nhân vật chính : Tây độc Âu Dương Phong thông qua sự phản chiếu số mệnh với những con người khác hắn ta đã gặp trong khoảng thời gian rời Bạch Đà sơn, ẩn cư trên sa mạc. Các nhân vật đó là :

Đông tà – Hoàng Dược Sư : bằng hữu – tay kiếm sĩ ngang hàng với Âu Dương, kẻ đã tự nguyện uống loại rượu “thần kỳ” để quên đi mối tình câm lặng của hắn với người con gái yêu hoa đào – tẩu tẩu của Âu Dương Phong. Nhưng liệu tình yêu ấy có thực đã mất đi khi hắn vẫn tìm đường quay về đảo Đào hoa, chỉ để được ngắm hoa mỗi năm lại nở ?



Mộ Dung Yên/Mộ Dung Yến : hai con người trong một – một kẻ tâm thần phân liệt, bán nam bán nữ có mối tình thù hận sâu sắc với Hoàng Dược Sư nhưng cuối cùng mới vỡ lẽ kẻ thù lớn nhất lại là bản ngã của chính hắn, một nỗi bất lực đã giúp hắn vươn lên làm cao thủ của giang hồ - với lối luyện kiếm bằng cách tự giao đấu với chính mình. Hắn trở thành Độc cô cầu bại.



Cô gái ôm giỏ trứng : người thiếu nữ nghèo ngày ngày ôm giỏ trứng và con lừa ra đường cái chờ đợi với hy vọng mong manh đổi số gia tài ít ỏi ấy của cô để đổi lấy sự trả thù cho cái chết oan ức của người em trai.



Tay kiếm sĩ mù : con người đã gần như tàn phế, mang trong lòng nỗi đau bị phản bội và một khao khát được trở về quê nhà kịp lúc để nhìn ngắm lại Bích Đào. Rốt cuộc hắn đã dùng thời gian ánh sáng cuối cùng ấy của mình để tiêu diệt thổ phỉ và vĩnh viễn bỏ thây nơi sa mạc.



Bích Đào : hôn thê của người kiếm sĩ mù, vì một phút rung động với Hoàng, cô đã để mất người yêu. Rồi sau này nàng sẽ sống suốt cuộc đời còn lại ra sao khi nhận ra người dành cho mình không phải Hoàng, còn người vì nàng thì đã vĩnh viễn không quay trở về ?



Bắc cái – Hồng thất : tay kiếm sĩ chân trần chưa bao giờ bại thủ, đã vì nghĩa khí với cô gái nghèo lâm trận và mất đi ngón tay cái. Cuối cùng hắn rời sa mạc cùng với nương tử của mình.



Tẩu tẩu của Âu Dương Phong : nàng là bóng thuyền quyên trong mắt hai cao thủ bậc nhất của câu chuyện, là người con gái chỉ hiện về trong những giấc mơ và hồi ức của Âu Dương và Hoàng. Nàng yêu Âu Dương Phong, kiên nhẫn đợi hắn nhưng cuối cùng lại quyết định lấy anh trai hắn, chỉ để trả thù. Nàng rốt cuộc là kẻ chiến thắng hay chiến bại ?



Và nhân vật chính của câu chuyện : 1 tay kiếm sĩ trẻ sau hôn lễ của đại ca đã một mình một ngựa bỏ về nơi hoang mạc làm nghề môi giới sát thủ. Hắn là kẻ cao ngạo, luôn tự hào về những triết lý thông minh (hay đê tiện) và khả năng thao túng người khác của mình. Nhưng ẩn đằng sau vẻ ngoài mạnh mẽ, phớt đời ấy chỉ là một tâm hồn đang móp méo vì đau. Cuối cùng, hắn rời sa mạc lao vào chốn giang hồ, nổi lên thành Tây độc - Âu Dương Phong.



-> Nói đến đây chắc ai cũng đủ hiểu Ashes of time tuy dựa vào truyện Anh Hùng Xạ Điêu của nhà văn Kim Dung nhưng nó hòan tòan không phải là bộ phim về các anh hùng thời loạn, mà nó lại rẽ lối đi riêng, tập trung vào lý giải những số phận tình yêu kỳ lạ, đời sống tinh thần và cả niềm ai oán của các nhân vật. Nó thực ra là một góc nhìn mới mang đầy chất cá nhân táo bạo của đạo diễn, và là một bộ phim tâm lý mang lớp vỏ bọc ngoài của kiếm hiệp. Một cuộc hành trình dài chiêm nghiệm của bầu tư duy và cảm xúc không dành cho tất cả mọi người nhưng lại dành cho bất cứ ai. Đây cũng là bộ phim mang tính tự sự lỏng lẻo, tập trung vào ngôn ngữ điện ảnh rất đặc trưng của Gia Vệ.


Cấu trúc :

Ashes of time có một cấu trúc phản chiếu đan xen giữa các nhân vật : kẻ này luôn tìm thấy một bóng hình tương tự người yêu, hay thậm chí là với bản thân mình từ kẻ khác : Hoàng dường như yêu Mộ Dung, dường như yêu Bích Đào, nhưng cô gái làm hắn yêu hoa thực sự là ai – phải chăng là người con gái ngày ngày vẫn tựa đầu nơi bậu cửa ? Mộ Dung căm Hoàng, căm tình địch hay căm chính mình ? Hoa đào của Hoàng và “hoa đào” của tay kiếm sĩ mù là một hay là hai ? Yêu và ruồng rẫy : là Âu Dương, là Hoàng, là tay kiếm sĩ, là Bích Đào hay là tẩu tẩu của Âu Dương ? Kẻ đáng hối là ai : là tẩu tẩu, là Bích Đào, là tay kiếm sĩ, là Hoàng, Hồng hay Âu Dương ? Cuộc rượt bắt tay ba, được mất cay đắng này là giữa Âu Dương – tẩu tẩu – Hoàng, Mộ Dung – Hoàng – tẩu tẩu hay giữa Hoàng – Bích Đào – tay kiếm sĩ ? Thời gian của Âu Dương liệu là khôn ngoan hay vô nghĩa; thời gian của tay kiếm sĩ mù, của cô gái nghèo và Hồng liệu có phải phí hoài hay có một giá trị đích chân nào không ?

Tất cả những câu hỏi đó, như những bóng gương ảo ảnh cứ xoay vần trong một điệp khúc dài vô tận, song hành cùng màu sắc của thời gian trôi …


Đây là một cấu trúc hiếm thấy trong bất cứ câu chuyện kiếm hiệp nào trước đây và cho đến bây giờ. Có phải chăng nó được ảnh hưởng từ lối lồng ghép chồng chéo giữa các mẩu chuyện từ bộ phim lừng danh Rashomon của đạo diễn Akira Kurosawa năm nào ? … Tôi hoài nghi nhưng không dám khẳng định, chỉ biết rằng lối kiến trúc nhà cửa với những mái hiên thấp hướng ra biển, kiểu trang phục và đầu tóc của các nhân vật trong phim cũng mang một phong vị rất đậm chất của xứ sở Phù Tang.

Tôi “âu yếm” mường tượng cấu trúc của Ashes of Time giống như một tấm mạng nhện : chỉnh thể hoàn mỹ, đan chéo sáng tạo, có điểm gặp gỡ, có sự tương đồng và lặp lại, đẹp, trong suốt mỏng manh nhưng lại giăng mắc một thứ bùa mê không sao thoát khỏi.



“Động” và “tĩnh”


Chất động và tĩnh trong Ashes of Time đã được sử dụng như một thủ pháp đắt giá nhất, được thiết lập đan xen đối nghịch nhau và kiến tạo nên nhiều biểu tượng đã đánh mạnh lên xúc cảm lẫn ý niệm của người xem : Sự động hiện hữu trong vạn vật và cái tĩnh lại đến từ con người.

Mọi khuôn hình của Ashes vốn đều đến từ đôi bàn tay “phù thủy” của nhà quay phim trứ danh Christopher Doyle, cách điệu và đẹp đến ngỡ ngàng, biến ảo mông lung và cũng tràn đầy tính chuyển động : Từ những bóng sáng lung linh trong khe suối nơi Bích Đào vẫn dẫn ngựa đến chờ đợi, thứ ánh sáng vàng bí ẩn xuyên qua lồng tre xoay tít chiếu rọi trên gương mặt của Mộ Dung, những tia nắng chói gắt lấp lánh trên mặt sóng, những dợn sóng mềm mại đẹp như tranh vẽ trên mặt hồ tĩnh lặng, rồi cát bay hoang vu, gió thổi, màn vải phất phơ … Nhưng bên cạnh những chuyển động đó lại là sự bất động, di chuyển chậm của con người. Điều này hữu ý đã làm nên một sự đối lập trong hình ảnh và gieo vào lòng người nhiều suy tưởng ám ảnh. Ai có thể quên được bóng sáng chiếu trên mặt Mộ Dung khi ả/hắn xoay chiếc lồng chim; hay cảnh Âu Dương Phong đứng lẻ loi nhìn ra sa mạc, sau lưng hắn lá cờ lay phần phật mãnh liệt trong làn gió …


Đằng sau các đụn cát kia có gì” – Âu Dương Phong tự hỏi. Còn tôi, sau khi đã suy ngẫm rất nhiều về bộ phim này cũng tự hỏi đằng sau tất cả những điều này là gì, thực sự là có ý nghĩa gì ? Vạn vật biến đổi lay động không ngừng, chúng phải chăng là hình ảnh hiện thân cho hình thái của thời gian, thứ dòng chảy vật chất vô hình nhưng không lúc nào ngưng chi phối mọi thứ trong nhân gian ? Thời gian là vô tận và vô tình. Sóng nước và lá cờ kia vì vậy cũng vô tình, chỉ có lòng người là đang dậy sóng và làm náo động chốn nhân sinh.

Gió vẫn thổi. Cờ bay nhẹ nhàng. Chỉ có trái tim con người là nguồn cội của hỗn loạn trong nhân gian.”

Vương Gia Vệ đã dựa vào chính câu nói này của nhà Phật làm "thi pháp" chủ đạo thể hiện cho bộ phim. Lửa đang gầm gào đấy, sóng đang xô nhau đấy, gió đang thổi đấy, nhưng có là gì so với cơn bão đang nổi trong tim người ? Cơn bão lòng âm thầm và nặng trĩu của những hối tiếc, mất mát, nỗi oán hoài về tháng năm tuổi trẻ, và một câu hỏi đau đáu : ai là kẻ chiến thắng, đâu là người chiến bại … ? Hay tất cả đều là những kẻ thua cuộc, là những số phận nhỏ nhoi vùng vẫy trước dòng thời gian, là những tâm hồn bị biến dạng và là nạn nhân của chính mình, của chính những kiêu hãnh, những ngộ nhận và cả sự háo thắng. Cuối cùng sau những tháng ngày hư ảo ấy, con người đối diện sự thật liệu còn gì hay chỉ là những trái tim tan vỡ, bất lực nhìn thời gian tàn nhẫn xóa dần đi các hồi ức và phủ lên mình một lớp tro tàn vĩnh viễn của thời gian ?

Sự đối lập giữa cái vô hạn và hữu hạn, giữa các ý niệm trừu tượng và nỗi đau hiện hữu tột cùng, giữa sự nuôi dưỡng và tàn phá, giữa cái chi phối và vật bị chi phối, tất cả đều được truyền tải tài tình thông qua những thước phim đẹp đẽ bậc nhất với cùng một thủ pháp hình ảnh đan xen “động”, “tĩnh” : trong động có tĩnh và trong tĩnh có động.


Nhân vật và diễn xuất :

Ánh mắt đau đáu nhìn ra xa xăm, sức biểu cảm mỏnh manh khi hay tin tẩu mất, vẻ kiêu bạc cô độc giữa hoang mạc rộng lớn, nét phong trần lãng tử trong bộ cánh xếp nếp, sự biếng nhác ... sexy cáu bẩn, hay cái khóe miệng cười nửa châm chọc cay độc nửa quyến rũ ngọt ngào … tất cả đều làm nên Âu Dương Phong – chiếc chìa khóa chủ đạo cho bầu không khí đa cảm tội lỗi và cả chất siêu hình lãng mạn của bộ phim. Thật khó tìm được ai còn sở hữu cái sức mê hoặc này như Trương Quốc Vinh, người luôn biết cách tạo nên những hình tượng nam tính đẹp, lạnh và giàu chất thơ nhất.


Mộ Dung Yên/Mộ Dung Yến : Cái nụ cười hay tiếng gào thần sầu quỷ khốc của nàng, từ ánh mắt điên dại tình tứ cho đến những giọt nước mắt thiết tha tủi phận khi nói "Khi ta hỏi huynh một câu, xin huynh hãy nói dối nhé. Nói rằng ta là người mà huynh yêu nhất". Cả cái bóng áo trắng thướt tha khi nàng lướt trên mặt hồ. Cái thần thái phi phàm ấy, cái bi kịch oái oăm ấy, cái nỗi đau đến ám ảnh ấy cũng chỉ có mình Lâm Thanh Hà mới diễn được thôi.



Tay kiếm sĩ mù – kẻ có số phận buồn thảm nhất lại chẳng hay sao khi giao cho Lương Triều Vỹ, chàng tài tử có ánh nhìn da diết nổi tiếng ? Đôi mắt người đăm đắm tìm kiếm ánh mặt trời, hay nét mặt sầu thương khi nhớ về “hoa đào” nơi quê nhà chắc mùa này đã nở … Những khuôn hình về Lương Triều Vỹ đều là những thước phim giàu tình cảm con người nhất trên màn ảnh.


Và cuối cùng là “Trương Mạn Ngọc tuyệt vời” (the great Maggie Cheung). Vẻ đẹp của nàng, đôi má nàng ửng hồng bên cánh hoa, nét mây thơ thẩn bên bậu cửa, vẻ kiêu sa bên tấm gương khi nàng chải tóc, hay đôi môi đáo để của nàng trong đêm động phòng bị Âu Dương chiếm đoạt. Và trường đoạn nàng nói về bi kịch của chính mình, trong chiếc áo đỏ và đôi môi anh đào đó, khi nàng nói “Ta đã nghĩ đến vài điều có thể là quan trọng của cuộc đời … Ta luôn nghĩ rằng ta là người chiến thắng. Cho đến một ngày ta soi gương và thấy khuôn mặt của một kẻ chiến bại. Suốt những năm tháng tươi đẹp nhất, người ta yêu thương nhất đã không ở bên cạnh ta. Có tuyệt không khi chúng ta có thể khiến cho thời gian quay trở lại ?” rồi gục khóc. Hoa trong ký ức con người có lẽ lúc nào cũng đẹp đẽ như vậy chăng ?



Cả bốn gương mặt này có lẽ cũng là những huyền thoại lớn nhất của dòng phim điện ảnh nghệ thuật của Hong Kong, cộng thêm một huyền thoại đạo diễn, một huyền thoại quay phim. Không kể đến sự góp mặt của một dàn sao sáng chói thực lực : Lương Gia Huy, Trương Học Hữu, Lưu Gia Linh, Dương Thái Ni đều diễn tròn vai, mỗi người một vẻ. Tôi không thể tìm được êkip nào, một đội ngũ nào của Hoa ngữ còn có thể đắt giá và tuyệt vời hơn !


Đôi điều phiến luận :

- Về phần “kiếm hiệp : Nếu nói bộ phim hòan tòan không có pha đánh kiếm nào ra trò thì thật quá ngộ nhận. Phong cách võ thuật của Ashes of Time nghiêng nhiều về tính mỹ thuật trong các đường nét chuyển động, có chủ ý làm nhòe đi. Có thể với một số người, nó không phải kiếm hiệm nhưng không thể phủ nhận đó là những thước phim hành động lạ lùng và giàu chất hội họa. Tháng trước tôi được xem Anh Hùng “Hero” của Trương Nghệ Mưu và nhận ra những màn giao đấu, và cả các xung đột của bộ phim này được ảnh hưởng từ Ashes of Time khá rõ rệt. Cũng phải nói thêm rằng nhà quay phim cho Hero cũng là Christopher Doyle.



- Về phần biên tập và tự sự : Cô đọng và biến ảo, nhiều hình ảnh chỉ mất nửa giây trên màn bạc, ập thoáng qua nhưng khiến người ta ám ảnh và nhớ mãi : như chiếc đũa rơi của Mộ Dung, cây nến đỏ rơi trên nền gạch ... Cảm giác về phần hình ảnh và dựng phim hầu như không có chỗ thừa, rõ ràng đã dễ hiểu hơn mặc dù đối với tôi bản 1994 vốn không cần phải sửa. Tuy nhiên, về phần tự sự của nhân vật, một người bạn của tôi đã từng nói có những chỗ phim còn sa vào kể lể, ví như đọan của Mộ Dung để lộ thân phận bán nam bán nữ của mình, từ phần hình ảnh và xung đột trước đó khán giả hòan tòan có thể đoán ra và có thể lược bớt thời lượng của đoạn này. Tôi cũng đồng ý như vậy.

- Về phần màu sắc : Một phần có lẽ do phần âm bản bị hỏng nên dù đã được tô vẽ màu sắc và chỉnh sửa suốt mấy năm, các đường nét của một số khuôn hình trông vẫn có vẻ giả và hơi thô. Âu cũng là do sự hạn chế của thời gian, kỹ thuật và cả những điều không may.

- Phiến luận : Từng có bài bình quốc tế cho rằng trong thập niên 90 ngoài Goodfellas của Martin Scorsese thì không có một phim nào hay hơn Ashes of Time. Người viết đã bật cười khi đọc những dòng này, dù thật lòng thấy rất cảm kích trước sự đánh giá cao của tác giả này. Các fan của Vương Gia Vệ không rõ là mấy phần nhưng theo bản thân tôi quan sát hết 10 người thì cũng đến 6-7 nhắc đến Ashes như bộ phim tuyệt vời nhất của Vương. Thật tiếc là tuy được liệt vào hàng kinh điển nhưng Ashes lại không nổi bằng những Chungking Express, In The Mood for Love, Happy Together hay Days of Being Wild … Tuy nhiên trong thâm tâm tôi mà nói, Ashes of Time luôn là tác phẩm đã để lại những tầng lớp xúc cảm mãnh liệt nhất, khiến tôi phải ngả mũ kính phục mỗi khi nghĩ về Vương Gia Vệ cũng như các ngôi sao của bộ phim. Bây giờ khi đang ngồi viết dòng này đây, ngón tay vẫn còn run run và trái tim thì rạo rực


Trích:
Ashes of Time (1994) và Ashes of Time Redux (2008)

Đạo diễn Vương Gia Vệ

Diễn viên
- Trương Quốc Vinh : Tây độc Âu Dương Phong
- Lâm Thanh Hà : Độc Cô Cầu Bại - Mộ Dung Yên/Yến
- Lương Triều Vỹ : Kiếm sỹ mù
- Lương Gia Huy : Đông tà Hoàng Dược Sư
- Trương Mạn Ngọc : tẩu tẩu của Âu dương Phong
- Lưu Gia Linh : Bích Đào - vợ kiếm sỹ mù
- Trương Học Hữu : Bắc cái Hồng Thất Công
- Dương Thái Ni : cô gái ôm giỏ trứng
__________________