Tìm kiếm bài trong Blog này

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

Trình độ diễn xuất của Trương Quốc Vinh đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt cho Trình Điệp Y

"Một nụ cười đem đến cả mùa xuân, một giọt lệ làm đen tối đất trời... Chỉ có nàng, chỉ có nàng mới có được vẻ đẹp nhường ấy."


Trích Chinese Media Net
30 tháng 12, 2006

Nguồn : Leslie Cheung Artist Studies http://www.leslie-cheung.com
Dịch : heobeo@dienanh.net


Lời trích bài về Zhang Yihou – một nhà nghiên cứu văn hóa, bà là tác giả của cuốn “The Bygones of Opera Actors – For those Who do Not Watch Operas” (Dĩ vãng đã qua của các diễn viên Kinh kịch – Cho những ai không xem Kinh kịch). Zhang cũng là người đã có hơn 30 năm làm việc trong giới sân khấu, là một người thầy dạy và nghiên cứu về Kinh kịch.

Bà nói “Các ngôi sao Trung Quốc sở hữu sức quyến rũ tột bậc, không thua kém gì các ngôi sao Hollywood. Trong bộ phim của Trần Khải Ca “Farewell To My Concubine” (Bá Vương Biệt Cơ) có một diễn viên xuất chúng như thế - Trương Quốc Vinh. Vai diễn Trình Điệp Y (Cheng Deiyi) của anh là thuộc loại khó quên nhất. Có lẽ mọi người đều đồng ý rằng kỹ thuật diễn xuất của anh trong bộ phim là xuất sắc nhất. Trương Quốc Vinh đóng vai một nam diễn viên, một nam diễn viên Kinh kịch Bắc Kinh, và đặc biệt hơn nữa, là một “male dan” (diễn viên nam chuyên đóng vai nữ). Anh đã lồng vào vai diễn thói quen cử chỉ của một male dan, cách thể hiện mắt, đời sống tình cảm và sức quyến rũ. Nữ diễn viên của phim là Củng Lợi (Gong Li), nhưng khi đặt Củng Lợi và Trương Quốc Vinh đứng cạnh nhau, xin cho tôi nói thẳng, khiến cô ấy trở nên hơi xuẩn ngốc. Không phải vì Củng Lợi ngốc, mà chỉ là vì vai male dan này của Trương Quốc Vinh, lối trình diễn của anh đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt không thể nào nhầm lẫn."


Ghi chú : Dan là thuật ngữ thông dụng để chỉ vai nữ trong Kinh kịch Bắc Kinh. Nghệ thuật của male dan – diễn viên nam chuyên thụ đóng vai nữ - là một trong những phần đặc sắc và quan trọng nhất trong nghệ thuật sân khấu Trung Quốc truyền thống, đặc biệt là trong Kinh kịch Bắc Kinh.

Leslie Cheung & những người phụ nữ quan trọng trong đời

Nguồn : http://all-about-leslie.blogspot.com/
Dịch : heobeo@dienanh.net


Những người phụ nữ quan trọng trong đời Leslie
– Trích Tự thuật năm 1985 của anh qua đài Commercial Radio.

Phần 1 :

“Người phụ nữ quan trọng nhất” – Luk Che (Lục Thư ~ Chị Sáu)


Có một vài người phụ nữ có vị trí rất quan trọng trong trái tim của tôi. Một vài người tôi hy vọng sẽ trở thành người đặc biệt nhưng hóa ra lại không phải vậy. Tôi nghĩ mọi người chắc sẽ thấy ngạc nhiên lắm khi biết có một người phụ nữ đã hơn 70 tuổi và bà vẫn giữ vị trí quan trọng nhất trong trái tim tôi, cũng giống như người phụ nữ trong bài hát “Monica” có vị trí không thể thay thế vậy, đó là “Luk Che (六姐)”. Những ai đã theo dõi cái gọi là “quá khứ không xác minh” của tôi sẽ đều biết bà là vú em của tôi, người đã nuôi dưỡng, chăm sóc, làm cho tôi khỏe mạnh và hạnh phúc như hiện nay.

Đối với tôi, bà có ý nghĩa hơn một vú em. Vị trí của bà từ lâu đã thay thế cho vị trí của mẹ. Có lẽ những ai đã đọc tiểu sử của tôi đều biết là tôi chưa bao giờ được ở với bố mẹ. Vì thế mối quan hệ giữa bố mẹ và tôi chỉ như bạn bè, hoặc thậm chí còn chưa đủ gần để làm bạn. Quay trở lại với Luk Che. Luk Che là một người phụ nữ rất cố chấp và cứng đầu, nhưng bà có một tấm lòng vàng. Bà cũng không phải là một phụ nữ xinh đẹp, thậm chí là thật sự xấu. Bà đã sống với tôi trong 28 năm qua rồi. Trong 28 năm đó, có lẽ tôi đã quá quen với gương mặt của người phụ nữ này, nên tôi không còn thấy sợ khi nhìn bà nữa, tôi cảm thấy bà là một người rất đáng yêu. Nhưng mỗi khi các bạn đến nhà chơi với tôi, họ đều rất sợ và nói, “Bà giúp việc của bạn trông dữ quá”. Đó là bởi vì họ không hiểu bà.

Tôi nghĩ rằng chúng ta luôn cần một quãng thời gian đủ dài để có thể hiểu rõ một người. Ngoại hình chỉ như một vỏ sò thôi. Để hiểu rõ một ai đó, bạn phải bắt đầu với tính cách của anh ấy/ cô ấy, và rồi bạn sẽ thấu hiểu hoàn toàn con người họ thôi. Tôi yêu thương Luk Che nhiều lắm bởi vì bất cứ khi nào tôi vấp ngã hay tuyệt vọng, và thậm chí ngay cả bây giờ khi tôi đã khá hơn một chút, vẫn luôn có bà ở bên tôi. Có lẽ nhiều người sẽ nói bà ắt đã giúp tôi trong việc học hành, nhưng điều đó không thể được vì bà không được đi học. Bà không biết làm sao để chỉ tôi đọc hay viết. Vài lần tôi còn ép bà phải học ABCD cùng tôi. Nhưng ít nhất bà đã dạy tôi làm sao để trở thành một con người đàng hoàng. Có lẽ với chúng ta bây giờ các quan điểm của bà đã hơi lỗi thời, nhưng ít ra tôi biết thiện ý của bà. Bà chưa bao giờ dạy tôi điều gì xấu, luôn dạy tôi đối xử với mọi người tử tế và làm sao để đối đãi với mọi việc cho được tốt đẹp.


Bà đã ở bên tôi suốt 28 năm qua dù rằng chúng tôi đã phải xa cách nhau 2, 3 năm, nhưng chí ít chúng tôi vẫn bên nhau. Thậm chí bây giờ khi tôi chuyển sang căn nhà mới, tôi cũng không thể sống thiếu bà bởi vì tôi đã quá quen với sự hiện diện của bà quanh tôi rồi. Thỉnh thoảng khi bà phải trở về quê ở Trung Quốc để thăm họ hàng, tôi luôn cảm thấy trống trải. Không phải vì tôi không biết làm bữa sáng cho mình đâu vì tôi đã từng tự nấu bữa sáng và trưa từ thời tôi còn ở Anh quốc rồi. Nhưng, nếu không có bà ở bên cạnh, tâm trạng tôi sẽ rất dễ trở nên tồi tệ. Không cần biết sự gắn bó và đam mê với người yêu là bao nhiêu; khi thiếu vắng cô ấy hay cô ấy rời bỏ tôi tôi cũng không cảm thấy buồn phiền nhiều đến thế bởi vì tôi luôn có thể tìm được một ai đó khác, nhưng nếu một ngày nào đó Luk Che biến mất, ý tôi là nếu bà ra đi, tôi chắc sẽ sụp đổ.


Không ai thay thế được “Luk Che”


Leslie và Chị Sáu

Vào thời điểm khó khăn nhất, tôi còn không có được 10 đô la trong túi, vì vào lúc đó quan hệ giữa bố và tôi rất tệ, chủ yếu nguyên nhân là do chị gái tôi. Tôi thậm chí từ chối không nhận cả trợ cấp hằng ngày của bố cho nhu yếu phẩm và thức ăn. Luk Che đã không bao giờ mắng hay nói điều gì khiến tôi nghĩ là mình đã làm sai, bà cũng không bỏ đói tôi. Luk Che chưa bao giờ được trả nhiều tiền. Gia đình tôi luôn lợi dụng bà. Bà chỉ nhận được vài trăm đô (một tháng) từ khi tôi được sinh ra. Khi tôi lên 21 tuổi, lần đầu tiên bà đã rời bỏ tôi, dù bà vẫn được trả công với số tiền y như vậy. Nhưng lương tháng của bà đều vào tay họ hàng. Tôi không biết có phải vì bà sinh ra ở Thuận Đức (“順德” một thành phố phía nam Quảng Châu) không nên bà rất nghe lời và dễ bảo đối với người trên.

Vì vậy, mỗi lần họ hàng từ Thuận Đức gửi thư cho bà, điều đầu tiên họ hỏi đến, sau khi chào hỏi, đều là tiền. Và bà sẽ luôn gửi ngay tiền tiết kiệm của mình về cho gia đình. Lý do bà bỏ tôi đi cho cái lần đầu tiên ấy là vì bà cảm thấy gia đình tôi đối xử không công bằng với bà, và thêm nữa là chị gái của bà lại mắc bệnh ung thư. Lúc ấy, bà nghĩ bà cần kiếm nhiều tiền hơn để trả viện phí cho chị gái, vậy nên bà đã tìm một công việc khác. Lúc ấy tôi đã cảm thấy không tài nào chịu nổi, nhưng không biết làm sao để giúp đỡ bà hay giúp chính mình. Tất cả những gì tôi có thể làm là nhìn bà ra đi. Có lẽ một số người đã được định mệnh sắp đặt ở cùng nhau. Tôi có một định mệnh ở cùng với Luk Che. Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn bên nhau, bà ấy là người phụ nữ tốt nhất trong cuộc đời này của tôi.


Quan hệ của tôi với mẹ

Bà Trương và con trai, ca ca Leslie

Nói về mẹ tôi à ? Bà là người tôi luôn mong mỏi sẽ trở thành người gần gũi và tốt với tôi nhất, nhưng không phải vậy. Có lẽ vì bố, bà đã bị tổn thương quá nhiều, nên bà không thể chăm sóc các con được nữa. Tôi đã cảm thấy rất tệ khi mỗi tuần tôi chỉ được gặp bà một lần vào tối thứ Bảy. Bà cũng không ở lại chỗ chúng tôi. Bố tôi còn tệ hơn. Ông chỉ đến dùng cơm tối và thăm các con vào các dịp lễ như lễ Rồng Thuyền hay tết Trung thu. Khi chúng tôi gặp nhau vào dịp Năm mới, ông luôn say xỉn. Tôi còn nhớ thời gian dài nhất ông ở với chúng tôi là 36 tiếng đồng hồ, chỉ hơn 1 ngày một chút, và ông cũng say. Mẹ tôi thì vẫn đối xử nhã nhặn khi bà đến thăm tôi, hiện giờ vẫn vậy. Và khi bà muốn vào nhà tắm, bà sẽ hỏi “Mẹ dùng nhà tắm của con có được không ?”. Tôi nghĩ chuyện này thật kỳ cục, nhưng nó lại xảy ra với tôi đấy. Quan hệ giữa tôi và mẹ chỉ phụ thuộc chủ yếu vào chuyện tiền bạc. Ví như mỗi tháng khi chúng tôi được lĩnh tiền, đó cũng là lúc bà được trả tiền khi bà luôn hỏi tôi về một khoản tiền nhất định. Hiện bà đã có căn hộ và tài sản riêng nên không còn phải lo nghĩ nhiều về chuyện tài chính nữa. Tôi có cảm giác sẽ có rất ít điều tôi có thể làm được để có thể bày tỏ sự quan tâm của tôi với mẹ.


Phần 2 :

Mẹ đỡ đầu của tôi

Nhiều người hay nói, “Leslie Cheung này, cậu có nhiều mẹ đỡ đầu thật đấy !” “Đúng thế đấy, tôi có một người mẹ đỡ đầu”. Từ “mẹ đỡ đầu” đã bị hiểu sai bởi nhiều người. Họ nghĩ mẹ đỡ đầu giống như một “bà mẹ kẹo đường” người sẽ cho bạn tiền để nhận lại một điều gì đó. Điều này chưa bao giờ xảy ra với Leslie Cheung ! Mẹ đỡ đầu của tôi là một phụ nữ rất trong sáng và chân thành. Tôi chỉ có một mẹ đỡ đầu sống ở bên Singapore thôi. Bà là người có tiểu sử khác thường. Bà đã bị chồng đối xử tệ bạc nên đã bỏ ông ra đi. Bà có ba đứa con. Và bà đã từng làm vũ nữ. Thời đó, vũ nữ chỉ nhảy với khách chứ không buôn phấn bán hương. Bà là một vũ nữ của ngày đó. Rồi sau bà tình cờ trở thành mamasan. Sau khi làm mamasan một thời gian, bà quay sang bắt đầu kinh doanh giải trí cho đến tận bây giờ tại khu quận đèn đỏ Singapore. Mẹ đỡ đầu của tôi là một phụ nữ như thế đấy. Tôi cảm thấy giữa chúng tôi luôn có một mối giao tiếp không cần thể hiện ra thành lời. Nhiều người nghĩ người làm trong ngành giải trí đều là lưu manh và điếm. Chỉ có bà mới thấu hiểu tôi, vì vậy tôi kể cho bà nghe rất nhiều bí mật được cất giấu trong tim tôi. Mẹ đỡ đầu là một phụ nữ có một tinh thần không thể khuất phục. Bà đã phải trải qua nhiều chông gai trong quá khứ. Thử tưởng tượng một phụ nữ đi đến Singapore từ Malaysia để làm vũ nữ, và rồi sau đó điều hành nhà giải trí của riêng bà. Điều này hơi khác thường. Bà là người đã chứng kiến qua bao thăng trầm của thời gian.

Tôi thích kết bạn với những người trưởng thành và lớn hơn mình vì tôi sẽ học hỏi được nhiều điều từ kinh nghiệm cuộc sống thực của họ. Có lẽ bạn nghĩ tôi trông trẻ hơn tuổi. Nhưng tôi nghĩ tinh thần của tôi rất gần với tuổi thật hoặc thậm chí còn chín chắn hơn. Ôi, mẹ đỡ đầu của tôi ! Nhiều người trong ngành giải trí sẽ kính trọng bà lắm khi họ đến Singapore vì bà là người rất chân thành với mọi người xung quanh. Nói về người chân thành với bạn bè, ngoài mẹ đỡ đầu của tôi ra, Anita Mui (Mai Diễm Phương) cũng là một cô gái như thế.


Leslie và Anita

Làm rõ tin đồn cho Anita Mui (Mai Diễm Phương)



Anita Mui là cô gái tôi thích hợp tác nhất kể cả trong ca hát và diễn xuất. Tôi cũng có thể nói là cô ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong sự nghiệp. Có lẽ bạn sẽ ngờ vực như : “Anh đùa à ? Anita chỉ vừa mới nổi thôi mà.” Đúng là thế. Có lẽ các bạn không quên chứ, nhớ lại rằng Anita đã nhận về nhiều đĩa bạch kim từ album đầy tay của cô ấy “The Doubtful Red (赤的疑惑)” và album trước (心債). Cho đến “The Doubtful Red” album của cô đã bán được gần 180 ngàn bản. Có lẽ khi ước lượng lại với thời điểm gần hơn, cô đã bán vượt hơn 200 ngàn bản rồi. Cô ấy trở thành sao lớn ngay lập tức kể từ khi cô mới bước chân vào làng giải trí và nhận được nhiều phản hồi tốt từ khán giả.

Dĩ nhiên, có người muốn bôi nhọ cô ấy, viện chứng cô ấy nghiện ma túy hoặc thậm chí đã có con trước đây. Tất cả đều là trò rẻ tiền. Ngoài Eddie Lau (Lưu Bồi Cơ), tôi không nghĩ có nhiều người có thể thân thiết với cô được như tôi. Khi chúng tôi đi lưu diễn, chúng tôi thường ở hai phòng riêng. Nhưng Anita sợ bóng tối, nên cô ấy thường hay để cánh cửa giữa hai phòng chúng tôi được mở. Cho dù Anita thỉnh thỏang thích ra ngoài đi disco, cô luôn hành xử như đang trong tour lưu diễn. Cô chưa bao giờ đến muộn. Tôi cũng thế. Khi đi lưu diễn, tôi thường chỉ nghỉ ngơi và ở lỳ trong phòng khách sạn. Bạn không tin điều đó à ? Khi chúng tôi ra khỏi thành phố, chúng tôi luôn đem theo nhiều tiểu thuyết của Yik She và Eunice Lam Yin Nai và chúng tôi đọc chúng trong thời gian ở trong phòng khách sạn. Chúng tôi cũng muốn đọc các tiểu thuyết của E Tak nhưng chưa có dịp.

Có một ngày, tôi tình cờ nhìn thấy cánh tay của Anita. Theo tin của paparazzi, trên tay của cô có vài hình xăm. Sau khi xem cánh tay phải của cô, tôi giả vờ đi vào nhà tắm để nhìn cánh tay trái. Nhưng tôi không thấy hình xăm nào cả. Tôi nghĩ công chúng và báo giới không cần phải bôi nhọ một ngôi sao mới như Anita, cô ấy thực sự rất tài năng. Tôi cũng từng bị paparazzi bôi nhọ. Họ nói là tôi chơi đủ mọi loại ma túy như marijuana, etc. Cánh tay của Anita, tôi tin là còn mềm mại và mịn màng hơn nhiều cô gái. Tại sao cô không mặc áo ngắn tay ? Đó là bởi vì chút khuyết điểm của cô. Vì tay cô ấy gầy quá, vì vậy nên cô không chọn các kiểu áo tay ngắn. Không biết giờ cô đã mặc chiếc nào chưa.

Nhưng tôi đồng tình với thái độ của cô – “Ngay cả khi bạn nghĩ tôi có hình xăm trên tay, không lẽ tôi phải kéo tay áo lên để cho bạn thấy rằng tôi không có chúng ?” Cho đến nay, cô ấy vẫn không bác bỏ lời đồn. Chỉ có Eddie Lau và tôi là hai người đã thấy cánh tay của cô. Eddie thấy tay cô đơn giản là vì anh ấy đã giúp cô thử và chỉnh lại các trang phục thường xuyên. Tôi cũng không có bổn phận làm rõ về tin đồn xăm mình này cho Anita, nhưng tôi cảm thấy mọi người không cần hiểu nhầm cô ấy là một cô gái có nhiều hình xăm. Xăm hình cũng chỉ là một lựa chọn cá nhân. Tôi không nói phụ nữ có hình xăm là có vấn đề về đạo đức, nhưng vì định kiến của công chúng một người có hình xăm là tư cách đạo đức không chấp nhận được nên tôi nghĩ mình cần làm rõ điều này cho Anita. Cô ấy là người phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn với tôi, vì vậy tôi không muốn cô ấy bị đổ tội oan.


Anita Mui, một cô gái chân thành với bạn bè

Anita và Leslie

Tôi đã vừa đề cập là cô ấy rất chân thành với bạn bè. Có lẽ bạn đang tự hỏi là “như thế nào”. Tôi nhớ năm ngoái khi tôi và Anita đi lưu diễn sang Singapore và Malaysia, tôi bị chứng viêm cuống phổi. Anita bảo tôi nên về phòng nghỉ cho lại sức. Sau đấy cô ấy đã luyện tập cả đêm cho đến khi bình minh lên tất cả các bài tôi sẽ hát cùng ban nhạc và đạo diễn. Có hơn 10 bài. Nó không phải là công việc chỉ cần làm trong nửa hay một tiếng đồng hồ như bạn tưởng tượng đâu, cô ấy đã phải luyện tập chúng suốt 4-5 tiếng đồng hồ. Cô ấy đâu cần làm vậy vì tôi. Cô ấy làm thế chỉ đơn giản vì cô ấy chân thành với bạn bè và cô ấy quan tâm đến tôi. Tôi nghĩ một người bạn như cô ấy là điều không dễ gặp. Tôi biết hiện nay cô ấy đang xuống tinh thần và tôi hy vọng là cô sẽ sớm vững vàng đứng thẳng trở lại. Tôi đã động viên cô ấy. Bên cạnh đời sống đa sầu đa cảm, cô ấy còn phải đối mặt với nhiều điều trong sự nghiệp.


Phần 3 :

Mối tình trẻ con thời cấp 2

Cô gái này có họ Wong. Cô ấy, tôi có thể nói thế, là người khá quan trọng trong cuộc đời tôi. Tôi tin cô thực sự là mối tình đầu của tôi. Cô ấy có mái tóc dài và tôi quen cô ấy khi chơi cầu lông. Chà, có vẻ như tôi quen tất cả các bạn gái đều qua thể thao thì phải. Nói về cô ấy, tôi nhớ về một cô khác tên là Tse Wah Sau – cô ấy hiện đã là vận động viên điền kinh nổi tiếng rồi. Tôi nghĩ chắc giờ cô ấy đã trở thành huấn luyện viên điền kinh cự ly chạy ngắn ở Hội Thể thao Nam Trung Quốc rồi. Vào lúc đó, cả hai cô gái đều có mái tóc dài và rất nổi tiếng trong số các học viên trang lứa trong trường. Wong đã so tài cùng Tse, và dĩ nhiên cô ấy đã thua Tse. Thành thực mà nói đấy đúng là một kỳ tích kỷ lục khi Tse đến giờ vẫn giữ được mức chạy trong 11 giây. Trong thi đấu thể thao, cầu lông là một môn chơi rất phổ biến. Vì vậy tôi thường chơi cầu lông với cô ấy sau khi chúng tôi đã quen biết nhau. Vào năm 2, tôi từ bỏ mái tóc ngắn vì để tóc dài lúc ấy đang là mốt vào thời điểm bấy giờ. Lúc ấy tôi cũng bắt đầu biết trốn học vài lần. À, những lần ấy thật ra cũng không hẳn là trốn học. Chỉ là tôi chỉ trở về lớp vào những phút cuối cùng trước khi chuông reo thôi , hy vọng là không bị giám thị nào bắt gặp. Về sau, quy định trường học bắt đầu trở nên nghiêm ngặt hơn, và tôi phải tự chấm dứt trò leo qua cổng sau của khuôn viên trường. Nhưng tôi vẫn không chịu cắt tóc vì lúc đó tôi nghĩ để tóc dài là rất bảnh. Ngoại trừ môn tiếng Anh, điểm số của tôi tại trường lúc ấy đúng là thảm họa.


Tôi đã bị tổn thương sâu sắc bởi cô gái này

Người phụ nữ tác động nhất đến tôi là người gần như đã khiến tôi suốt đời này không còn thích phụ nữ. Tôi gặp người phụ nữ này tại sàn nhảy. Vào khoảng giữa năm 1981, 1982 tại thời điểm tồi tệ nhất trong sự nghiệp, tôi đã dành rất nhiều thời gian trên sàn nhảy. Vào lúc đó, tôi đã gặp một người phụ nữ, cô ấy là người lai. Lần đầu gặp người phụ nữ này, tôi có cảm giác hệt như lúc Marlon Brando ôm lấy nữ diễn viên trong phim “The Last Tango in Paris”, đại loại là hiện em chỉ cần biết thân thể anh, không cần biết tên anh. Cảm xúc này tồn tại mãi trong tôi nên tôi đã liên lạc với cô ấy nhiều lần. Tôi nghĩ cô ấy ắt là biết tên tôi, nhưng tôi đã chưa bao giờ hỏi tên cô ấy. Sau khi có cuộc tình với nhau, chúng tôi vẫn giữ mối quan hệ đôi khi cho đến khi tôi hỏi tên cô, vì tôi muốn duy trì mối quan hệ này của chúng tôi.

Và rồi sau đó tôi mới phát hiện ra người phụ nữ này là một kẻ lừa đảo. Trình độ và kỹ thuật lừa bịp của cô ta thật sự rất cao. Giờ nghĩ lại những trải nghiệm đó vẫn thấy ghê tởm. Cô ấy không chỉ lừa tình và tiền bạc của tôi, cô ấy còn gần như lừa gia đình tôi. Với tôi đó thật là một sỉ nhục lớn. Ít nhất tình cảm của tôi cũng tan biến, hết cả lòng tốt hay sức ảnh hưởng, nhưng cô ấy cũng đã gây tổn thương tinh thần tôi ghê gớm. Trong khoảng thời gian đó, tôi có lần đã cố tránh mặt cô, và thậm chí đã chạy khỏi nhà và đi thuê phòng khách sạn vì cô ta thuê mấy tay anh chị đến quấy nhiễu tôi. Sau tai nạn, tôi gần như mất hứng thú với một số cô gái. Kết quả là bạn bè quanh tôi sau tai nạn ấy toàn đàn ông, ví dụ như Paul Chung của Đài Phát Thanh Thương Mại. Dĩ nhiên anh ta có rất nhiều bạn gái, nhưng anh không nghiêm túc với bất cứ ai cả.


Hết

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Leslie Trương Quốc Vinh lọt vào top 30 Nam diễn viên đồng tính vĩ đại nhất (theo trang S.O.S)

Danh sách bao gồm nhiều ngôi sao huyền thoại của điện ảnh thế giới: như James Dean (#10, icon nổi loạn số 1 của văn hoá Mỹ), Rudolph Valentino (#19, ông hoàng quyến rũ của kỷ nguyên phim câm Hollywood), Montgomery Clift (#28) hay Cary Grant (#30) ...

30 Greatest gay actors

Leslie Cheung (Trương Quốc Vinh) - #Hạng 17


Là một kẻ quyến rũ, một ngôi sao nhạc pop, và một nam diễn viên nổi tiếng người Hong Kong, Leslie Cheung Trương Quốc Vinh chiếm lĩnh trái tim hàng triệu fan hâm mộ, trở thành một trong những nghệ sĩ trình diễn nổi tiếng nhất của châu Á và đồng thời sở hữu những mặt cá tính rất hấp dẫn. Nam diễn viên này đã xuất hiện trong hơn 60 bộ phim, anh hoá thân vào các nhân vật nhập nhằng về giới tính, cũng như thủ diễn các nhân vật chính lãng mạn trong cả hai thể loại phim đồng tính và dị tính thông thường.

Đó là vào năm 1986, sự nghiệp phim ảnh của Trương đã thực sự gặp được bệ phóng, nhờ vào vai diễn anh cảnh sát tân binh đối diện với Châu Nhuận Phát trong bộ phim giật gân tội phạm nổi tiếng của đạo diễn Ngô Vũ Sâm: A Better Tomorrow (Anh hùng bản sắc). Sự thành công của bộ phim này đã mở ra nhiều cơ hội cho người diễn viên, và anh bắt đầu phát triển theo nhiều hướng đi mới, vừa xuất hiện trong cả hai phần của A Better Tomorrow (năm 1987 và 1989), vừa trở thành một trong nhiều các ngôi sao của đạo diễn Quan Cẩm Bằng khi tham gia phim Rouge (Yên chi khâu), một câu chuyện tình ma lãng mạn - anh diễn vai một vị thiếu gia nhà giàu phải lòng một kỹ nữ cải trang thành nam nhân. Rouge cũng là một trong những bộ phim được công nhận rộng rãi và đánh giá cao nhất của Hong Kong trong thập niên 80.

Người nam diễn viên này sau đó lại tiếp tục tham diễn trong nhiều thể loại phim khác nhau, và hợp tác cùng nhiều đạo diễn được kính trọng nhất của ngành công nghiệp xuyên suốt những năm 90. Năm 1990, anh diễn cho bộ phim hành động Once A Thief (Tung hoành tứ hải) của Ngô Vũ Sâm, và rồi anh nhận được cơ hội phát triển phong cách diễn xuất độc đáo của mình trong bộ phim Days of Being Wild (A Phi chính truyện) của đạo diễn Vương Gia Vệ, vai diễn này đem về cho anh danh hiệu Nam Diễn Viên Xuất Sắc Nhất tại Giải thưởng Điện Ảnh Hong Kong. Năm 1993, Trương cũng thủ diễn một tay kiếm sĩ nhạy cảm và là vai diễn nam chính lãng mạn nổi bật của tác phẩm vô cùng thành công: The Bride with White Hair (Bạch phát ma nữ).

Phim Days of Being Wild

Cùng năm đó, Trương sang Trung Quốc để quay bộ phim Farewell My Concubine (Bá vương biệt cơ) của đạo diễn Trần Khải Ca, tác phẩm đã thắng giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes, cũng như được đề cử cho một Giải thưởng Viện Hàn Lâm (Oscar) cho hạng mục Phim Nước Ngoài Hay Nhất. Bộ phim này bị cấm vận tại Trung Quốc vì nội dung nhạy cảm và liên quan đến chủ đề đồng tính. Vai diễn của Trương đã nhận về nhiều lời ca ngợi và công nhận từ quốc tế. Ba năm sau đó, anh lại một lần nữa hợp tác cùng Trần Khải Ca, thể hiện một tay chơi phóng đãng trong phim Temptress Moon (Phong nguyệt).

Trương có tiếng là một trong số ít các ngôi sao châu Á cởi mở diễn các dạng vai đồng tính, và một trong những lựa chọn đó đã đặc biệt đem lại tiếng vang cho vai diễn đồng tính thành công nhất của anh: phim Happy Together (Xuân quang xạ tiết) của đạo diễn Vương Gia Vệ. Những cảnh ái tình thẳng thừng trên màn ảnh đã khiến Happy Together trở thành một trong những bộ phim gây tranh cãi nhất của năm, nhưng đồng thời nó cũng là một trong những tác phẩm được ca ngợi nhiều nhất.

Phim Happy Together - vai diễn xuất sắc nhất của Trương Quốc Vinh
(theo s.o.s)

Trương phải chịu đựng chứng bệnh trầm cảm trong một thời gian dài và khi anh tự sát vào ngày 1 tháng 4, 2003, tin tức này đã làm rúng động cộng đồng điện ảnh trên toàn thế giới, đau đớn như vừa trải qua một cơn bão tàn phá. Các fan hâm mộ và đồng nghiệp của anh đã có khoảng thời gian khó khăn để chấp nhận thực tế rằng: làm thế nào mà một nam diễn viên như anh, với những tài năng thiên bẩm tuyệt vời, lại ra đi với kết thúc định mệnh trong khi vẫn đang ngự trên đỉnh vinh quang của sự nghiệp.

Năm 2000, Trương được xướng danh là Asia's Biggest Superstar (Siêu sao lớn nhất của châu Á) bởi đài China Central Television, và 5 năm sau đó, anh được bình chọn là “Nam Diễn Viên Nổi Tiếng Nhất Trong Vòng 100 Năm Của Điện Ảnh Hoa Ngữ”. Gần đây, anh lọt vào “Top 5 Biểu Tượng Âm Nhạc Toàn Cầu Mọi Thời Đại”* do kênh CNN bình chọn, anh chỉ đứng sau Michael Jackson và nhóm nhạc The Beatles.

Nguồn: Sound On Sight, 10/2010 - 03/2011
Dịch: heobeo @dienanh.net
Link: CLICK

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

100 phim tiếng Hoa xuất sắc nhất do Hội ĐA Hong Kong bầu chọn nhân dịp kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh Hoa ngữ

Lời dẫn của: TronHocLamTho @DAN

Năm 2005 hội điện ảnh Hồng Kông đã bình chọn cho những phim tiếng Hoa kinh điển trong 100 năm qua nhân dịp kỷ niệm nền điện ảnh Hoa ngữ tròn một trăm năm tuổi . Tuy có nhiều bất đồng nhưng đa số đều đồng ý phim Spring in Small Town (Xuân tại thị trấn) dẫn đầu danh sách phim kinh điển . Phim "Xuân tại thị trấn" được quay năm 1948 và rất ít người ngoài Trung Quốc biết đến phim này . Chỉ đến mãi năm 2002, phim bắt đầu mới được để ý khi đạo diễn Tian ZhuangZhuang làm lại phim này .

Danh sách phim kinh điển được bình chọn để đánh dấu 100 năm của điện ảnh Trung Hoa nhân dịp giải Kim Tượng, bắt đầu với phim đầu tiên của Trung Quốc có tựa The Battle of Dingjunshan năm 1905 .

Hai phim kinh điển còn lại cùng giữ vị trí 3 phim kinh điển với phim "Xuân tại Thị trấn" là phim A Better Tomorrow của đạo diễn John Woo và phim Days of Being Wild của đạo diễn Vương Gia Vệ .
Trong khi đó phim "Ngọa Hổ Tàng Long" của đạo diễn Ang Lee chỉ được xếp hạng 10 . Mặc dù được các nhà phê bình phim đánh giá cao nhưng phim của đạo diễn Trương Nghê Mưu lần này lại chỉ có hai phim lọt vào danh sách nhưng không nằm trong 20 phim kinh điển dẫn đầu . Hai tác phẩm khác đã từng gây được tiếng vang như Lồng đèn đỏ treo cao và Anh Hùng thì hoàn toàn bị loại bỏ.


DANH SÁCH 100 PHIM KINH ĐIỂN TIẾNG HOA


1) Springtime in a Small Town (1948) (Xuân tại Thị trấn) - đạo diễn Fei Mu, Trung Quốc

2) A Better Tomorrow (1986) – đạo diễn John Woo, Hong Kong

3) Days of Being Wild (1990) - đạo diễn Vương Gia Vệ, Hong Kong

4) Yellow Earth (1984) – Đạo diễn Trần Khải Ca, Trung Quốc

5) City of Sadness (1989) (Thành Phố Buồn) – đạo diễn Hầu Thiếu Hiền, Đài Loan

6) Long Arm of the Law (1984) – đạo diễn Johnny Mak, Hong Kong

7) Dragon Inn (1967) (Long Môn khách sạn) - đạo diễn King Hu, Đài Loan

8) Boat People (1982) (Thuyền nhân)– đạo diễn Ann Hui, Hong Kong

9) A Touch of Zen (1971) – đạo diễn King Hu, Đài Loan

10) Crouching Tiger, Hidden Dragon (2000) (Ngọa Hổ Tàng Long) – đạo diễn Ang Lee, Đài Loan / Hồng Kông

11) Street Angel (1937) – đạo diễn Yuan Mu-Jih, Trung Quốc

12) A Brighter Summer Day (1991) – đạo diễn Edward Yang, Đài Loan

13) The Private Eye (1976) – đạo diễn Michael Hui, Hồng Kông

14) The Mission (1999) – đạo diễn Johnnie To, Hong Kong

15) One-Armed Swordsman (1967) – đạo diễn Chang Cheh, Hong Kong

16) Fist of Fury (1972) – đạo diễn Lo Wei, Hong Kong

17) In the Heat of the Sun (1994) – đạo diễn Jiang Wen, Trung Quốc

18) In the Face of Demolition (1953) – đạo diễn Li Tie, Hong Kong

19) A Chinese Odyssey (1995) – đạo diễn Jeffrey Lau, Hong Kong

20) The Arch (1970) – đạo diễn Tang Shu-Shuen, Hong Kong
21.Rouge (1988) - Hong Kong, đạo diễn Stanley Kwan

22. Chungking Express (1994) - Hong Kong, đạo diễn Vương Gia Vệ

23. Homecoming (1984)- Hong Kong, đạo diễn YIM Ho

24. The Time to Live and the Time to Die ( 1985) - Đài Loan, đạo diễn Hầu Thiếu Hiền

25. Red Sorghum (1987) -Trung Quốc, đạo diễn Trương Nghệ Mưu

26. Father and Son (1981) - Hồng Kông, đạo diễn Allen FONG

27. The Spring River Flows East (1947) -Trung Quốc, đạo diễn CAI Chusheng

28. Comrades: Almost a Love Story (1996) -Hồng Kông, đạo diễn Peter CHAN

29. The Goddess (1934) -Trung quốc, đạo diễn WU Yonggang

30. The Highway (1934) - Trung quốc, đạo diễn SUN Yu

31. The Secret (1979) -HỒng Kông, đạo diễn Ann HUI

32. Infernal Affairs (2002) (Vô Gian Đạo) - Hồng Kông, đạo diễn LAU Wai-Keung / MAK Siu-Fai

33. Drunken Master (1978) (Túy Quyền) - Hồng Kông, đạo diễn YUEN Wo-Ping

34 . The Butterfly Murders (1979) - Hồng Kông, đạo diễn Từ Khắc

35. Ashes of Time (1994) - Hồng Kông, đạo diễn Vương Gia Vệ

36. Made in Hong Kong (1997) -Hồng Kông đạo diễn Fruit CHAN

37. Sorrows of the Forbidden City (1948) -Trung Quốc, đạo diễn ZHU Shilin

38. Liang Shan-po and Chu Ying-t'ai (1963) (Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài) - Hong Kong ,LI Han-Hsiang

39. The Story of A Discharged Prisoner (1967)- Hong Kong, LUNG Kong

40. Zu Warriors (1983) - Hong Kong, TSUI Hark

41. The Terrorizer (1986) - Taiwan, Edward YANG

42. The Killer (1989) - Hong Kong, John WOO

43. Once Upon of Time in China (1991) - Hong Kong, TSUI Hark

44. The Actress (1992) (tên khác: Center Stage) - Hong Kong ,Stanley KWAN

45. Story of Qiuju (1992) (Câu chuyện Thu Cúc) - China (mainland), ZHANG Yimou

46. This Life of Mine (1950) - China (mainland), SHI Hui

47. Kingdom and the Beauty (1959) - Hong Kong, LI Han-Hsiang

48. Dong Nuan ( 1969) (Tạm dịch: Đông ấm) - Taiwan, LI Han-Hsiang

49. An Autumn's Tale (1987) - Hong Kong, Mabel CHEUNG

50. A Chinese Ghost Story (1987) - Hong Kong ,CHING Siu-Tung

51. The Purple Hairpin (1959 Hong Kong LI Tie

52. The Orphan (1960) - Hong Kong, LEE Sun-Fung

53. Two Stage Sisters (1965) (Vũ đài thư muội) - China, XIE Jin

54. City on Fire (1987) - Hong Kong, Ringo LAM

55. Farewell My Concubine (1993) (Bá Vương Biệt Cơ) - Hong Kong / China, CHEN Kaige

56. Yi Yi (2000) - Taiwan, Edward YANG

57. Cold Nights (1955) - Hong Kong, LEE Sun-Fung

58. Po Xiao Shi Fen ( 1967) (Tạm Dịch: Thời khắc bình minh) - Taiwan, SUNG Tsu-Shou

59. Raining in the Mountain (1979)- Taiwan ,King HU

60. Police Story (1985)- Hong Kong, Jackie CHAN

61. C'est la Vie, Mon Chéri (1993) - Hong Kong, YEE Tung-Sheng

62. The Wedding Banquet (1993) - Taiwan, Ang LEE

63. The Platform (2000) - China, JIA Zhangke

64. The Wild, Wild Rose ( 1960) - Hong Kong, WANG Tian-Lin

65. The Great Devotion (1960) - Hong Kong, CHOR Yuen

66. My Intimate Partner (1960) - Hong Kong, KIM Chun

67. Dangerous Encounters of the First Kind (1980)- Hong Kong, TSUI Hark

68. Ah Ying / Ban Bian Ren (1983)- Hong Kong Allen FONG

69. Durian Durian (2000) - Hong Kong Fruit CHAN

70. Little Toys 1933 China SUN Yu

71. Ai Le Zhong Nian (Tạm dịch: Ái Lạc Trung Niên) 1949 China SANG Hu

72. The House of 72 Tenants 1973 Hong Kong CHOR Yuen

73. Nomad 1982 Hong Kong Patrick TAM

74. Dust in the Wind 1986 Taiwan HOU Hsiao-Hsien

75. 92 Legendary La Rose Noire 1992 Hong Kong Jeffrey LAU

76. Shaolin Soccer (Thiếu Lâm Túc Cầu) 2002 Hong Kong Stephen Chow

77. Song at Midnight 1937 China MA-XU Weibang

78. China Behind 1974 Hong Kong TONG Shu-Shuen

79. The Spooky Bunch 1980 Hong Kong Ann HUI

80. Taipei Story 1985 Taiwan Edward YANG

81. The Blue Kite 1993 China (mainland) TIAN Zhuangzhuang

82. Tai Tai Wan Sui (Tạm dịch: Thái Thái Vạn Tuế) 1948 China SANG Hu

83. Mambo Girl 1957 Hong Kong YI Wen

84. Feast of a Rich Family 1959 Hong Kong LEE Sun-Fung / LI Tie / NG Wui / LO Ji-Hung

85. Execution in Autumn 1972 Taiwan LEE Hsing

86. Hibiscus Town 1986 China (mainland) XIE Jin

87. God of Gamblers 1989 Hong Kong Wong Jing

88. As Tears Go By 1989 Hong Kong WONG Kar-Wai

89. Happy Together 1997 Hong Kong WONG Kar-Wai

90. In the Mood for Love 2000 (Tâm trạng đang yêu) Hong Kong WONG Kar-Wai

91. The Light of Ten Thousand Homes 1948 China SHEN Fu

92 .Festival Moon 1953 Hong Kong ZHU Shilin

93. Fu Mu Xin (Hearts of Father and Mother) 1955 Hong Kong KIM Chun

94. Lin Zexu 1959 China (mainland) ZHENG Junli / CEN Fan

95. Dreams of the Red Chambers 1962 (Hồng Lâu Mộng) China (mainland) CEN Fan

96. Digital Master 1983 Hong Kong Kirk WONG

97. Shanghai Blues 1984 Hong Kong TSUI Hark

98. Eight Diagram Pole Fighter 1984 Hong Kong LIU Chia-Liang

99. The Black Cannon Incident 1985 China (mainland) HUANG Jianxin

100. Rebels of the Neon God 1992 Taiwan TSAI Ming-Liang



***


Bảng danh sách theo tên Hán tự:

Ngày 27 tháng 3 năm 2005, để kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của điện ảnh Hoa ngữ, tại lễ trao giải lần thứ 24, HKFA đã công bố danh sách 103 phim tiếng Hoa được bình chọn là hay nhất trong vòng 100 năm qua. Danh sách này được lựa chọn bởi 101 nhà làm phim, nhà phê bình và các học giả, bao gồm 24 phim của Trung Hoa đại lục (trong đó có 11 phim trước năm 1949), 61 phim của Hồng Kông, 16 phim của Đài Loan, 1 là sản phẩn hợp tác của Hồng Kông và Đại lục, 1 là sản phẩm hợp tác của Hồng Kông và Đài Loan.

Thứ tự ↓ Tên phim ↓ Năm ↓ Vùng ↓ Đạo diễn ↓

1 Tiểu thành chi xuân (小城之春) 1948 Trung Hoa đại lục Phí Mục
2 Anh hùng bản sắc (英雄本色) 1986 Hồng Kông Ngô Vũ Sâm
3 A Phi chính truyện (阿飛正傳) 1990 Hồng Kông Vương Gia Vệ
4 Hoàng thổ địa (黄土地) 1984 Trung Hoa đại lục Trần Khải Ca
5 Bi tình thành thị (悲情城市) 1989 Đài Loan Hầu Hiếu Hiền
6 Tỉnh cảnh kỳ binh (省港旗兵) 1984 Hồng Kông Mạch Đương Hùng
7 Long Môn khách sạn (龍門客棧) 1967 Đài Loan Hồ Kim Thuyên
8 Thuyền nhân (投奔怒海) 1982 Hồng Kông Hứa An Hoa
9 Hiệp nữ (俠女) 1971 Đài Loan Hồ Kim Thuyên
10 Ngọa hổ tàng long (臥虎藏龍) 2000 Đài Loan/Hồng Kông Lý An

11 Mã lộ thiên sứ (马路天使) 1937 Trung Hoa đại lục Viên Mục Chi
12 Cổ lĩnh nhai thiếu niên sát nhân sự kiện (牯嶺街少年殺人事件) 1991 Đài Loan Dương Đức Xương
13 Bán cân bát lưỡng (半斤八兩) 1976 Hồng Kông Hứa Quan Văn
14 Sinh hỏa (鎗火) 1999 Hồng Kông Đỗ Kỳ Phong
15 Độc thủ đại hiệp (獨臂刀) 1967 Hồng Kông Trương Triệt
16 Tinh võ môn (精武门) 1972 Hồng Kông La Duy
17 Dương quang xán lạn đích nhật tử (阳光灿烂的日子) 1994 Trung Hoa đại lục Khương Văn
18 Nguy lâu xuân hiểu (危樓春曉) 1953 Hồng Kông Lý Thiết
19 Đại thoại Tây du (大話西遊) 1995 Hồng Kông Lưu Trấn Vỹ
20 Đổng phu nhân (董夫人) 1970 Hồng Kông Đường Thư Tuyền

21 Yên chi khâu (胭脂扣) 1998 Hồng Kông Quan Cẩm Bằng
22 Trùng Khánh Sâm Lâm (重慶森林) 1994 Hồng Kông Vương Gia Vệ
23 Tự thủy lưu niên (似水流年) 1984 Hồng Kông Nghiêm Hạo
24 Đồng niên vãn sự (童年往事) 1985 Đài Loan Hầu Hiếu Hiền
25 Cao lương đỏ (红高粱) 1987 Trung Hoa đại lục Trương Nghệ Mưu
26 Phụ tử tình (父子情) 1981 Hồng Kông Phương Dục Bình
27 Nhất giang xuân thủy hướng đông lưu (一江春水向東流) 1947 Trung Hoa đại lục Thái Sở Sinh
28 Điềm mật mật (甜蜜蜜) 1996 Hồng Kông Trần Khả Tân
29 Thần nữ (神女) 1934 Trung Hoa đại lục Ngô Vĩnh Cương
30 Đại lộ (大路) 1934 Trung Hoa đại lục Tôn Du

31 Phong kiếp (瘋劫) 1979 Hồng Kông Hứa An Hoa
32 Vô gian đạo (無間道) 2002 Hồng Kông Lưu Vỹ Cường
Mạch Triệu Huy
33 Túy quyền 1978 Hồng Kông Viên Hòa Bình
34 Điệp biến (蝶變) 1979 Hồng Kông Từ Khắc
35 Đông Tà Tây Độc (東邪西毒) 1994 Hồng Kông Vương Gia Vệ
36 Hương cảng chế tạo (香港製造) 1997 Hồng Kông Trần Quả
37 Thanh cung bí sử (清宮秘史) 1948 Trung Hoa đại lục Chu Thạch Lân
38 Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài (梁山伯與祝英台) 1963 Hồng Kông Lý Hàn Tường
39 Anh hùng bản sắc (英雄本色) 1967 Hồng Kông Long Cương
40 Tân Thục Sơn kiếm hiệp (新蜀山劍俠) 1983 Hồng Kông Từ Khắc

41 Phần tử khủng bố (恐怖份子) 1986 Đài Loan Dương Đức Xương
42 Điệp huyết song hùng (喋血雙雄) 1989 Hồng Kông Ngô Vũ Sâm
43 Hoàng Phi Hồng (黃飛鴻) 1991 Hồng Kông Từ Khắc
44 Nguyễn Linh Ngọc (阮玲玉) 1992 Hồng Kông Quan Cẩm Bằng
45 Thu Cúc đi kiện (秋菊打官司) 1992 Trung Hoa đại lục Trương Nghệ Mưu
46 Ngã giá nhất bối tử (我這一輩子) 1950 Trung Hoa đại lục Thạch Huy
47 Giang sơn mỹ nhân (江山美人) 1959 Hồng Kông Lý Hàn Tường
48 Đông noãn (冬暖) 1969 Đài Loan Lý Hàn Tường
49 Thu thiên đích đồng thoại (秋天的童話) 1987 Hồng Kông Trương Uyển Đình
50 Thiện nữ u hồn (倩女幽魂) 1987 Hồng Kông Trình Tiểu Đông

51 Tử Sai Kí (紫釵記) 1959 Hồng Kông Lý Thiết
52 Nhân hải cô hồng (人海孤鴻) 1960 Hồng Kông Lý Thần Phong
53 Vũ đài thư muội (舞台姐妹) 1965 Trung Hoa đại lục Tạ Tấn
54 Hổ phong vân (龍虎風雲) 1987 Hồng Kông Lâm Linh Đồng
55 Bá Vương biệt cơ (霸王別姬) 1993 Hồng Kông/Trung Hoa đại lục Trần Khải Ca
56 Nhất Nhất (一一) 2000 Đài Loan Dương Đức Xương
57 Hàn dạ (寒夜) 1955 Hồng Kông Lý Thần Phong
58 Phá hiểu thời phân (破曉時分) 1967 Đài Loan Tống Tồn Thọ
59 Không sơn linh vũ (空山灵雨) 1979 Đài Loan Hồ Kim Thuyên
60 Câu chuyện cảnh sát (警察故事) 1985 Hồng Kông Thành Long

61 Tân bất liễu tình (新不了情) 1993 Hồng Kông Nhĩ Đông Thăng
62 Hỉ yến (喜宴) 1993 Đài Loan Lý An
63 Trạm đài (站台) 2000 Trung Hoa đại lục Cổ Chương Kha
64 Dã mân côi chi luyến (野玫瑰之戀) 1960 Hồng Kông Vương Thiên Lâm
65 Khả liên thiên hạ phụ mẫu tâm (可憐天下父母心) 1960 Hồng Kông Sở Nguyên
66 Nan huynh nan đệ (難兄難弟) 1960 Hồng Kông Tần Kiếm
67 Đệ nhất loại hình nguy hiểm (第一類型危險) 1980 Hồng Kông Từ Khắc
68 Bán biên nhân (半邊人) 1983 Hồng Kông Phương Dục Bình
69 Phiêu phiêu (榴槤飄飄) 2000 Hồng Kông Trần Quả
70 Tiểu ngoạn ý (小玩意) 1933 Trung Hoa đại lục Tôn Du

71 Ai nhạc trung niên (哀樂中年) 1949 Trung Hoa đại lục Tang Cô
72 Thất thập nhị gia phòng khách (七十二家房客) 1973 Hồng Kông Sở Nguyên
73 Liệt hỏa thanh xuân (烈火青春) 1982 Hồng Kông Đàm Gia Minh
74 Luyến luyến phong trần (戀戀風塵) 1986 Đài Loan Hầu Hiếu Hiền
75 Hắc mân côi đối hắc mân côi (黑玫瑰對黑玫瑰) 1992 Hồng Kông Lưu Trấn Vỹ
76 Đội bóng Thiếu Lâm (少林足球) 2002 Hồng Kông Châu Tinh Trì
77 Dạ bán ca thanh (1937) (夜半歌声) 1937 Trung Hoa đại lục Mã Từ Duy Bang
78 Dạ bán ca thanh (1974) (夜半歌声) 1974 Hồng Kông Đường Thư Tuyền
79 Tiểu tử đáo quỷ (小姐撞到鬼) 1980 Hồng Kông Hứa An Hoa
80 Thanh mai trúc mã (青梅竹馬) 1985 Đài Loan Dương Đức Xương

81 Lam phong tranh (蓝风筝) 1993 Trung Hoa đại lục Điền Tráng Tráng
82 Thái thái vạn tuế (太太萬歲) 1948 Trung Hoa đại lục Tang Cô
83 Mạn ba nữ lang (曼波女郎) 1957 Hồng Kông Dịch Văn
84 Hào môn dạ yến (豪門夜宴) 1959 Hồng Kông Lý Thần Phong, Lý Thiết, Ngô Hồi, La Chí Hùng
85 Thu quế (秋決) 1972 Đài Loan Lý Hành
86 Thị trấn Phù Dung (芙蓉鎮) 1986 Trung Hoa đại lục Tạ Tấn
87 Thánh bài (賭神) 1989 Hồng Kông Vương Tinh
88 Vượng giác tạp môn (旺角卡門) 1988 Hồng Kông Vương Gia Vệ
89 Xuân quang xạ tiết (春光乍泄) 1997 Hồng Kông Vương Gia Vệ
90 Tâm trạng khi yêu (花樣年華) 2000 Hồng Kông Vương Gia Vệ

91 Vạn gia đăng hỏa (萬家燈火) 1948 Trung Hoa đại lục Trầm Phục
92 Trung thu nguyệt (中秋月) 1953 Hồng Kông Chu Thạch Lân
93 Phụ mẫu tâm (父母心) 1955 Hồng Kông Tần Kiếm
94 Lâm Tắc Từ (林則徐) 1959 Trung Hoa đại lục Trịnh Quân Lý
95 Hồng lâu mộng (紅樓夢) 1962 Trung Hoa đại lục Sầm Phạm
96 Đả lôi đài (打擂台) 1983 Hồng Kông Hoàng Chí Cường
97 Thượng Hải chi dạ (上海之夜) 1984 Hồng Kông Từ Khắc
98 Ngũ lang bát quái côn (五郎八卦棍) 1984 Hồng Kông Lưu Gia Lương
99 Hắc pháo sự kiện (黑炮事件) 1985 Trung Hoa đại lục Hoàng Kiến Tân
100 Thanh thiếu niên bất sất (青少年哪叱) 1992 Đài Loan Thái Minh Lượng

101 Hí mộng nhân sinh (戲夢人生) 1993 Đài Loan Hầu Hiếu Hiền
102 Nữ nhân tứ thập (1995) (女人四十) 1995 Hồng Kông Hứa An Hoa
103 Nhất cá đô bất năng thiểu (一个都不能少) 1998 Trung Hoa đại lục Trương Nghệ Mưu

***

Kim Mã công bố 100 phim tiếng Hoa xuất sắc nhất

Ngày: 27/01/2011
Nguồn: filmbiz.asia
Dịch: heobeo @DAN


Cảnh phim "A Brighter Summer Day"

Liên hoan phim Kim Mã Đài Bắc (Đài Bắc Kim Mã Ảnh Triển) vừa công bố kết quả của cuộc bình chọn “100 Phim Tiếng Hoa Xuất Sắc Nhất”

122 chuyên gia điện ảnh đã tham gia cuộc khảo sát, bao gồm các nhà nghiên cứu điện ảnh, nhà tổ chức liên hoan phim, các đạo diễn, diễn viên và nhà sản xuất, phần lớn là đến từ Đài Loan.

Với 73 phiếu bầu, tác phẩm A City of Sadness năm 1989 của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền (Hou Hsiao Hsien) giữ vị trí đầu bảng. A Brighter Summer Day của đạo diễn Dương Đức Xương (Edward Yang) năm 1991 theo sát với 71 phiếu bình chọn.

Đạo diễn Hầu là chủ tịch của liên hoan phim, ông có 7 bộ phim được lọt vào top, bao gồm: A Time to Live, A Time to Die (1985) hạng 3 và Dust in the Wind (1986) xếp vị trí thứ 7. Bộ phim gần đây nhất lọt vào top của đạo diễn này là Flowers of Shanghai (1998).

Đạo diễn Dương có 6 phim trong top 100, bao gồm: Yi Yi: A One and a Two (2000) hạng 7 và The Terrorizer (1986) vị trí 11. Bộ phim tinh xảo của ông That Day, on the Beach (1983) xếp hạng 30.

Cả Lý An (Ang Lee) và Thái Minh Lượng (Tsai Ming-liang) mỗi người được công nhận với 4 phim hàng đầu. Bộ phim được xếp hạng cao nhất của họ Lý là Crouching Tiger, Hidden Dragon (2000) xếp hạng 6, và Vive L'amour (1994) của họ Thái được bình chọn ở vị trí 13.

Bốn gương mặt trên đều là những đại biểu ưu tú nhất của nền điện ảnh Đài Loan.

Vương Gia Vệ (Wong Kar-wai) là đạo diễn Hong Kong được đánh giá cao nhất với 5 phim, dẫn đầu là tác phẩm Days of Being Wild (1990) hạng 4. Đạo diễn Hứa Yên Hoa (Ann Hui) có 4 phim trong top; Quan Cẩm Bằng (Stanley Kwan), Châu Tinh Trì (Stephen Chow) và Từ Khắc (Tsui Hark) mỗi người có 2 phim.

Các đạo diễn khác của Hong Kong, như Trần Khả Tân (Peter Chan), Ngô Vũ Sâm (John Woo), Đỗ Kỳ Phong (Johnnie To) và Trần Quả (Fruit Chan) mỗi người sở hữu 1 phim được vinh danh : Comrades: Almost A Love Story (1996), A Better Tomorrow (1986), The Mission (1999) và Made in Hong Kong (1997).

Trong số các tên tuổi đến từ Đại lục Trung Quốc, Trương Nghệ Mưu (Zhang Yimou) là người được đánh giá cao nhất với 5 phim trong top 100. “Đầu tàu” của thế hệ thứ 6 Giả Chương Kha (Jia Zhangke) có 3 phim trong khi Trần Khải Ca (Chen Kaige) và Khương Văn (Jiang Wen) mỗi người có 2 phim. Các đạo diễn Ninh Hạo (Ninh Hao), Điền Tráng Tráng (Tian Zhuangzhuang), Lâu Diệp (Lou Ye) và Lý Dương (Li Yang) mỗi người có 1 phim.

Mỗi người tham gia cuộc bình chọn đều được trao cho một tờ danh sách liệt kê tên của 601 bộ phim sản xuất từ năm 1922 đến nay, và họ được đánh dấu “X” để chọn lựa ra tối đa 30 phim. Mặc dù có chuyên gia đã mạnh dạn bầu chọn cho những tác phẩm không có tên trong danh sách, nhưng đa số vẫn thiên về các tác phẩm đã được gợi ý, và không khó để nhận thấy bảng list top 100 dành ưu ái cho các tác phẩm của Đài Loan.

Có 157 phim mới của thập kỷ qua được đưa vào xem xét, 142 phim trong giai đoạn 1990s, 119 phim từ những năm 1980s, còn lại 183 phim trải đều cho bảy thập kỷ sớm nhất của nền điện ảnh tiếng Hoa. Bộ phim sớm nhất có mặt trong top 100 là Little Toys của đạo diễn Tôn Du (Sun Yu) sản xuất năm 1933 với sự tham gia của ngôi sao màn bạc Nguyễn Linh Ngọc. Các bộ phim hoàn thành sau tháng 8, 2010 không được đưa vào xem xét.

Giải Thưởng Điện Ảnh Kim Mã bản thân đã là một giải thưởng uy tín thiên về phim Đài. Trong lịch sử 47 năm của mình, các tác phẩm của địa phương đã được xứng danh tổng cộng 30 lần. Phim Trung Quốc chỉ được xét giải kể từ năm 1996.

Các nhà tổ chức Liên hoan phim dự định sẽ xuất bản sách viết bằng Anh ngữ và Trung ngữ để giới thiệu chi tiết các bộ phim có mặt trong top 100 vào tháng 8 năm 2011.


LIÊN HOAN PHIM KIM MÃ ĐÀI BẮC 2011

"100 PHIM TIẾNG HOA XUẤT SẮC NHẤT"

01. A City of Sadness (悲情城市); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1989
02. A Brighter Summer Day (牯嶺街少年殺人事件); dir. Edward Yang (楊德昌), 1991
03. A Time to Live and a Time to Die (童年往事); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1985
04. Days of Being Wild (阿飛正傳); dir. Wong Kar-wai (王家衛), 1990
05. Spring in a Small Town (小城之春); dir. Fei Mu (費穆), 1948
06. Crouching Tiger, Hidden Dragon (臥虎藏龍); dir. Ang Lee (李安), 2000
07. Yi Yi: A One and a Two (一一); dir. Edward Yang (楊德昌), 2000
07. Dust in the Wind (戀戀風塵); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1986
09. Dragon Inn (龍門客棧); dir. King Hu (胡金銓), 1967
09. In the Mood for Love (花樣年華); dir. Wong Kar-wai (王家衛), 2000

11. The Love Eterne (梁山伯與祝英台); dir. Li Han-hsiang (李翰祥), 1963
11. The Terrorizer (恐怖份子); dir. Edward Yang (楊德昌), 1986
13. Vive L'amour (愛情萬歲); dir. Tsai Ming-liang (蔡明亮), 1994
13. Yellow Earth (黃土地); dir. Chen Kaige (陳凱歌), 1984
15. A Touch of Zen (俠女); dir. King Hu (胡金銓), 1971
16. Comrades: Almost a Love Story (甜蜜蜜); dir. Peter Chan (陳可辛), 1996
17. A Better Tomorrow (英雄本色); dir. John Woo (吳宇森), 1986
18. Infernal Affairs (無間道); dir. Andrew Lau (劉偉強)、Alan Mak (麥兆輝), 2003
19. In the Heat of the Sun (陽光燦爛的日子); dir. Jiang Wen (姜文), 1994
19. Street Angel (馬路天使); dir. Yuan Muzhi (袁牧之), 1937

21. ChungKing Express (重慶森林); dir. Wong Kar-wai (王家衛), 1994
21. Red Sorghum (紅高粱); dir. Zhang Yimou (張藝謀), 1987
23. The Wedding Banquet (喜宴); dir. Ang Lee (李安), 1992
23. The Goddess (神女); dir. Wu Yonggang (吳永剛), 1934
23. The Boys From Fengkuei (風櫃來的人); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1983
26. Happy Together (春光乍洩); dir. Wong Kar-wai (王家衛), 1997
27. The Sandwich Man (兒子的大玩偶); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), Wan Jen (萬仁) & Tseng Chuang-hsiang (曾壯祥), 1983
27. At Dawn (破曉時分); dir. Sung Tsun-shou (宋存壽), 1968
27. Rouge (胭脂扣); dir. Stanley Kwan (關錦鵬), 1988

30. Center Stage (阮玲玉); dir. Stanley Kwan (關錦鵬), 1992
30. Farewell My Concubine (霸王別姬); dir. Chen Kaige (陳凱歌), 1993
30. That Day, on the Beach (海灘的一天); dir. Edward Yang (楊德昌), 1983
30. Fist of Fury (精武門); dir. Lo Wei (羅維), 1972
30. Lust, Caution (色,戒); dir. Ang Lee (李安), 2007
35. Xiao Wu (小武); dir. Jia Zhangke (賈樟柯), 1997
35. A Chinese Ghost Story (倩女幽魂); dir. Tony Ching (程小東), 1987
35. The Story of Qiu Ju (秋菊打官司); dir. Zhang Yimou (張藝謀), 1992
38. Execution in Autumn (秋決); dir. Lee Hsing (李行), 1972
38. Cape No. 7 (海角七號); dir. Wei Te-sheng (魏德聖), 2008

40. Spring River Flows East (一江春水向東流); dir. Cai Chusheng (蔡楚生) & Zheng Junli (鄭君里), 1947
41. The Blue Kite (藍風箏); dir. Tian Zhuangzhuang (田壯壯), 1992
41. The Puppetmaster (戲夢人生); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1993
41. Darkness and Light (黑暗之光); dir. Chang Tso-chi (張作驥), 1999
44. The Mission (鎗火); dir. Johnnie To (杜琪峰), 1999
44. Still Life (三峽好人); dir. Jia Zhangke (賈樟柯), 2006
44. To Live (活著); dir. Zhang Yimou (張藝謀), 1994
44. The Arch (董夫人); dir. Cecile Tang (唐書璇), 1970
48. Goodbye Darling (再見阿郎); dir. Pai Ching-jui (白景瑞), 1971
48. Kung Fu Hustle (功夫); dir. Stephen Chow (周星馳), 2005

50. Let It Be (無米樂); dir. Yen Lan-Chuan (顏蘭權) & Chuang Yi-tseng (莊益增), 2005
50. Beautiful Duckling (養鴨人家); dir. Lee Hsing (李行), 1964
50. The Highway (大路); dir. Sun Yu (孫瑜), 1934
50. Taipei Story (青梅竹馬); dir. Edward Yang (楊德昌), 1985
50. Ashes of Time (東邪西毒); dir. Wong Kar-wai (王家衛), 1994
50. Raise the Red Lantern (大紅燈籠高高掛); dir. Zhang Yimou (張藝謀), 1991
56. An Autumn's Tale (秋天的童話); dir. Mabel Cheung (張婉婷), 1987
56. Growing Up (小畢的故事); dir. Chen Kun-hou (陳坤厚), 1983
58. The Way of the Dragon (猛龍過江); dir. Bruce Lee (李小龍), 1972
58. The Spooky Bunch (撞到正(小姐撞到鬼)); dir. Ann Hui (許鞍華), 1980
58. Old Well (老井); dir. Wu Tianming (吳天明), 1987
58. Made in Hong Kong (香港製造); dir. Fruit Chan (陳果), 1997
58. Rebels of the Neon God (青少年哪吒); dir. Tsai Ming-liang (蔡明亮), 1992
58. The Way We Are (天水圍的日與夜); dir. Ann Hui (許鞍華), 2008
58. No puedo vivir sin ti (不能沒有你); dir. Leon Dai (戴立忍), 2008
58. Blind Shaft (盲井); dir. Li Yang (李楊), 2003

66. Shaolin Soccer (少林足球); dir. Stephen Chow (周星馳), 2001
66. Eat Drink Man Woman (飲食男女); dir. Ang Lee (李安), 1994
66. Strawman (稻草人); dir. Wang Tung (王童), 1987
66. The Private Eyes (半斤八兩); dir. Michael Hui (許冠文), 1976
66. Drunken Master (醉拳); dir. Yuen Woo-ping (袁和平), 1978
66. Story of a Mother (母親三十歲); dir. Sung Tsun-shou (宋存壽), 1973
66. Zu: Warriors from the Magic Mountain (新蜀山劍俠); dir. Tsui Hark (徐克), 1983

73. In Our Time (光陰的故事); dir. Jim Tao (陶德辰), Edward Yang (楊德昌), Ko I-cheng (柯一正) & Chang Yi (張毅), 1982
73. Jade Love (玉卿嫂); dir. Chang Yi (張毅), 1984
73. Sun, Moon and Star (星星月亮太陽); dir. Yi Wen (易文), 1962
73. The One-Armed Swordsman (獨臂刀); dir. Chang Cheh (張徹), 1967
73. A Chinese Odyssey I-II (西遊記); dir. Jeff Lau (劉鎮偉), 1995
73. Summer Snow (女人・四十); dir. Ann Hui (許鞍華), 1995
73. A Borrowed Life (多桑); dir. Wu Nien-chen (吳念真), 1994
73. Platform (站台); dir. Jia Zhangke (賈樟柯), 2000
73. Summer Palace (頤和園); dir. Lou Ye (婁燁), 2006
73. Kekexili: Mountain Patrol (可可西里); dir. Lu Chuan (陸川), 2004

83. Blue Gate Crossing (藍色大門); dir. Yee Chih-yen (易智言), 2002
83. Not One Less (一個都不能少); dir. Zhang Yimou (張藝謀), 1999
83. Flowers of Shanghai (海上花); dir. Hou Hsiao-hsien (侯孝賢), 1998
83. Crazy Stone (瘋狂的石頭); dir. Ning Hao (寧浩), 2006
83. Hill of No Return (無言的山丘); dir. Wang Tung (王童), 1992
83. The River (河流); dir. Tsai Ming-liang (蔡明亮), 1997
83. He Never Gives Up (汪洋中的一條船); dir. Lee Hsing (李行), 1978
83. Boat People (投奔怒海); dir. Ann Hui (許鞍華), 1982

91. The Last Message (天才與白癡); dir. Michael Hui (許冠文), 1975
91. The Blue and the Black (藍與黑); dir. Doe Ching (陶秦), 1967
91. Two Stage Sisters (舞台姊妹); dir. Xie Jin (謝晉), 1965
91. Little Toys (小玩意); dir. Sun Yu (孫瑜), 1933
91. The Lin Family Shop (林家舖子); dir. Shui Hua (水華), 1959
91. Crossroads (十字街頭); dir. Shen Xiling (沈西苓), 1937
91. Police Story (警察故事); dir. Jackie Chan (成龍), 1985
91. Once Upon a Time in China (黃飛鴻); dir. Tsui Hark (徐克), 1991
91. The Hole (洞); dir. Tsai Ming-liang (蔡明亮), 1998
91. Devils on the Doorstep (鬼子來了); dir. Jiang Wen (姜文), 2000

***

2 list bình chọn

BẢNG KẾT QUẢ BẦU CHỌN CỦA HÃNG TRUYỀN THÔNG RTHK NHÂN DỊP KỶ NIỆM "100 NĂM LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH HOA NGỮ"


Trước những năm 80 - Nam diễn viên được yêu thích nhất: Michael Hui (Hứa Quan Văn)

Trước những năm 80 - Nữ diễn viên được yêu thích nhất: Josephine Siao (Tiêu Phương Phương)

Sau những năm 80 - Nam diễn viên được yêu thích nhất : Leslie Cheung (Trương Quốc Vinh)

Sau những năm 80 - Nữ diễn viên được yêu thích nhất : Maggie Cheung (Trương Mạn Ngọc)

Nhân vật gây xúc động nhất: Kwan Tak Hing (hình tượng của nam diễn viên Quan Đức Hưng)

Ngôi sao nhí được yêu thích nhất: BoBo Fung (Phùng Bửu Bửu - sau này bà cũng trở thành một nữ diễn viên lừng danh, từng đóng rất thành công các vai mỹ nhân như Tây Thi, Võ Tắc Thiên...)

Nam diễn viên hài hước nhất: Stephen Chow (Châu Tinh Trì)

Nữ diễn viên hài hước nhất : Sandra Ng (Ngô Quân Như)

Best Evergreen Award : Law Lan (nữ diễn viên La Lan - ko biết dịch hạng mục này là như thế nào)

Nam diễn viên hành động xuất sắc nhất : Bruce Lee (Lý Tiểu Long)

Nữ diễn viên hành động xuất sắc nhất : Michelle Yeoh (Dương Tử Quỳnh)

Bộ phim khó quên nhất : A Better Tomorrow (Anh Hùng Bản Sắc - đạo diễn Ngô Vũ Sâm; diễn viên Châu Nhuận Phát, Địch Long, Trương Quốc Vinh)


***


Top 5 cặp đôi tình nhân đẹp nhất trong các phim của đạo diễn Vương Gia Vệ (kết quả bình chọn trên mạng của khán giả Hàn Quốc với 785 người tham gia)

1. Leslie Cheung - Tony Leung ( phim 'Happy Together', 40.25%)
2. Maggie Cheung - Tony Leung (phim 'In The Mood For Love', 25.6%)
3. Wong Faye - Tony Leung (phim 'Chungking Express', 18.6%)
4. Zhang Ziyi - Tony Leung (phim '2046', 8.02%)
5. Maggie Cheung - Andy Lau (phim 'As Tears Go By', 7.51%)



Link tin: http://xoomer.virgilio.it/nguidett/from09.htm

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

Bewildered - Dreaming of the Inner River


Ca sĩ: Leslie Trương Quốc Vinh
Người dịch: MissyNhic @dienanh.net


MỘNG ĐÁO NỘI HÀ

Tôi xúc động trước tên em và biết em cười đùa
Hãy để cho tôi thể hiện , ôm em bằng cả hai tay được ko
Em tát cho tôi đau , tại sao tôi không được mơ tưởng
Những cố gắng đầu tiên cho một kỉ niệm ấm áp , chia tay , bất lực , rồi tiếp tục

Kể từ khi rời bỏ , tôi đã vượt qua lửa photpho , dạo lướt cùng em, trên mặt hồ thiên nga
Nhưng tại sao vẫn phải chết , nhìn về một phía , sợ câu chuyện không có lối thoát
Nếu em muốn chết phiêu bổng trên đỉnh cao thì xin em hãy dành cho tôi nhiều hơn

Trôi trên sông , tôi đang đi trên sông
Nhìn thuỷ triều gục mình vào bờ biển , có mười giây ấm áp lưu nhanh , hãy gọi cho tôi khi em tức giận
Ai cũng có các dòng sông , giống như giấc mơ , nhưng lại không có cầu vượt
Biết thế, đưa mắt ngang vai em , điều tuyệt vời nhất đôi mắt nấp né, quên chỉ là cần thiết

Chuyển động dịch thân mà không ai biết , như người chết , đôi chân làm tôi đứng lặng
Tôi không nên quá vui mừng , vẫn có thể sẽ khóc , đâu thể sử dụng hết các nước mắt
Cắn tay tôi ngay bây giờ , tôi hy vọng cái đau này , nói rằng tôi không mơ
Điều gì thôi thúc em , đi ôm cơ thể kẻ thiếu thốn nghèo hèn này , sức mạnh thể xác lại bung toả

Kể từ khi rời bỏ , tôi đã vượt qua lửa photpho , dạo lướt cùng em, trên mặt hồ thiên nga
Nhưng tại sao vẫn phải chết , nhìn về một phía , sợ câu chuyện không có lối thoát
Nếu em muốn chết phiêu bổng trên đỉnh cao thì xin em hãy dành cho tôi nhiều hơn

Trôi trên sông , tôi đang đi trên sông
Nhìn thuỷ triều gục mình vào bờ biển , có mười giây ấm áp lưu nhanh , hãy gọi cho tôi khi em tức giận
Ai cũng có các dòng sông , giống như giấc mơ , nhưng lại không có cầu vượt
Biết thế, đưa mắt ngang vai em , điều tuyệt vời nhất đôi mắt nấp né, quên chỉ là cần thiết

Ai trôi trên sông , tôi đang đi trên sông
Nhìn thuỷ triều gục mình vào bờ biển , có mười giây ấm áp lưu nhanh , hãy gọi cho tôi khi em tức giận
Ai cũng có các dòng sông , giống như giấc mơ , nhưng lại không có cầu vượt
Biết thế, đưa mắt ngang vai em , điều tuyệt vời nhất đôi mắt nấp né, quên chỉ là cần thiết

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Album “The Most Popular” của Trương Quốc Vinh đoạt giải “Đĩa nhạc tiếng Quảng bán chạy nhất năm 2009”

Ngày: 10/04/2010
Nguồn tin từ trang web của IFPI: http://www.ifpihk.org/www_1/go2009e.php
Tường thuật bởi: heobeo + befosure @dienanh.net


Hiệp hội âm nhạc IFPI đại diện tại Hong Kong tối ngày 10/04/2010 vừa tổ chức lễ trao giải thường niên tôn vinh các album nhạc và các cá nhân nghệ sĩ đem về số lượng doanh thu dồi dào nhất cho ngành công nghiệp âm nhạc trong năm 2009. Đĩa CD tổng hợp mang tên “The Most Popular” được phát hành lại nhằm tưởng nhớ nam ca sĩ - diễn viên Trương Quốc Vinh đã được công nhận là đĩa nhạc hát tiếng Quảng bán chạy nhất năm 2009, vượt qua nhiều album của các tên tuổi nghệ sĩ đương thời. Đây là album nhạc vốn không xa lạ với các fan hâm mộ của anh, tuy cũ nhưng vẫn gây được sức hút đáng kinh ngạc.




Cùng lọt vào Top 10 đĩa nhạc tiếng Quảng bán chạy nhất còn có album phát hành lại “Faithfully” của ngôi sao quá cố, Bách Biến Thiên Hậu Mai Diễm Phương. Giải “Đĩa nhạc hát tiếng Quan Thoại bán chạy nhất” được trao cho album “Tai Yang” của nữ ca sĩ Đài Loan Trần Ỷ Trinh. Và giải “Giọng ca vàng đem lại doanh thu cao nhất năm” thuộc về Janice và Lâm Phong.


Top 10 đĩa nhạc tiếng Quảng bán chạy nhất năm 2009 (không theo thứ tự doanh thu)

Lưu Đức Hòa – Love Hope
Mai Diễm Phương – Faithfully
Dung Tổ Nhi – A TIME FOR US
Thái Trác Nghiên - Er Que Yi Charlene
Thái Trác Nghiên – Another Me
Trương Quốc Vinh – Most Popular
Janice – Wish
Janice – Serving You
G.E.M. – 18…
Justin - From Justin Collection Of His First 3 Years