Tìm kiếm bài trong Blog này

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Con người lãng mạn của Trương Quốc Vinh: Từ sân khấu đến đời thực

~ Bài viết của tác giả Hiền Trang ~

(Phần WARNING của tác giả: Hôm trước vì có một số bạn muốn mình viết review về cuốn 'Firelight of a different colour' của Nigel Collett về cuộc đời và sự nghiệp của Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung), mình quyết định sẽ viết 1 bài, nhưng ko phải review, chỉ đơn giản là cảm nhận của mình dựa trên những gì mình biết về anh và đề cập đến một số chi tiết trong sách mà trước đây chưa từng được biết đến về Leslie, những chi tiết này có thể sẽ gây shock với nhiều người - bạn có thể tin, hoặc không tin. Nhưng tác giả Collett đã có thời gian tìm hiểu và thu thập các record của Leslie tại các trường nơi anh từng theo học nên có thể nói là thông tin có cơ sở và bằng chứng đàng hoàng. Một điều lưu ý nữa là cuốn sách đã được viết mà không được sự đồng ý/ủng hộ từ phía gia đình Leslie). Cuối cùng, đây là bài viết mang tính cá nhân, sẽ nói đến cả một số chuyện đời tư của anh nữa, nên nếu ai cho rằng đó là xâm phạm vào chuyện riêng tư của anh thì không nên đọc.)



CON NGƯỜI LÃNG MẠN CỦA TRƯƠNG QUỐC VINH: TỪ SÂN KHẤU ĐẾN ĐỜI THỰC


Sau khi chàng Narcissus vì mải ngắm nhìn mình mà ngã lộn nhào xuống hồ nước, thần thoại Hy Lạp kể rằng chàng hóa thành hoa thủy tiên. Còn theo Oscar Wilde, hồ nước khóc than cho cái chết của chàng, vì không còn chàng, hồ nước không thể tự ngắm nhìn mình trong đôi mắt chàng nữa.


I. Phần lớn mọi người sinh ra là hồ nước. Một số người sinh ra là hoa thủy tiên. Tôi không muốn nói đến khía cạnh yêu bản thân, mà ý tôi là, một số người sinh ra để sống một cuộc đời ngụ ngôn, để qua đôi mắt họ, kẻ khác có thể nhìn thấy phản chiếu của cuộc đời mình. Nếu ví phần lớn mọi người là những mảng màu nhạt lờ nhờ, thì có thể ví họ là những mảng màu rực rỡ, rực rỡ đến mức cực đoan, đẹp nổi bật, nhưng cũng bởi thế mà không phải lúc nào cũng phù hợp trong một thế giới màu xám, và quan trọng hơn, nên nhớ rằng nếu tô đậm hơn những mảng màu nhạt, ta sẽ được những mảng màu rực rỡ, cho nên những mảng màu rực rỡ luôn bao chứa những mảng màu nhạt. Vì thế mà cuộc đời họ mang tính ngụ ngôn.

Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) chắc chắn sinh ra để làm hoa thủy tiên, để làm một mảng màu rực rỡ, để làm một truyền kỳ.

Chuyện này thì ai cũng biết. Tự thân cuộc đời của Leslie, với tổng hòa của tài hoa, sắc đẹp và bi kịch, là một tác phẩm nghệ thuật bậc thầy hàng trăm năm mới có một lần, và nghệ thuật, thì như Oscar Wilde từng nói, cuộc sống bắt chước nghệ thuật nhiều hơn là nghệ thuật bắt chước cuộc sống. (Life imitates Art far more than Art imitates Life). Sự vật được hiện thân là bởi có những thi sĩ và họa sĩ. Và chúng ta có thể nhìn ra rất nhiều điều bởi vì có những cuộc đời như Leslie Cheung.

Có quá nhiều thứ mà người ta có thể nói về anh, bởi vì nên nhớ rằng một tác phẩm nghệ thuật bậc thầy là một tác phẩm nghệ thuật khiến khán giả tìm ra những ý nghĩa mà chính tác giả của nó không hề nghĩ đến. Và nữa, Leslie không chỉ là một mảng màu rực rỡ, chính xác hơn thì con người anh là sự hòa quyện của rất nhiều những mảng màu và mảng màu nào cũng rực rỡ. Nhưng trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc đến một khía cạnh về anh và chỉ một khía cạnh mà thôi: "con người lãng mạn" Leslie. Cụm từ này được lấy cảm hứng từ một cụm từ mà Thomas Mann đã dùng để mô tả Franz Kafka, một trong những nhà văn vĩ đại nhất mà nhân loại từng có, "con người mơ mộng" Kafka.

Không một nghệ sĩ nào ở châu Á có thể biểu đạt sự lãng mạn rõ hơn Leslie Cheung. Anh là sự lãng mạn huy hoàng nhất, và đáng nói hơn cả, sự lãng mạn huy hoàng đó bừng lên trong một thời đại người ta đã thôi không còn lãng mạn, và tôi vẫn thường xuyên nói rằng: Anh đã đem tinh thần của chàng Romeo từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 để sống. Trên sân khấu âm nhạc, Leslie là ông vua của những bản tình ca. Trên màn bạc, Leslie nếu không là một người tình cuồng nhiệt thì cũng là một kẻ bị ám ảnh dai dẳng bởi tình yêu. Trong đời thực, sự khát khao tình yêu của Leslie đã được nhà báo Richard Corliss gói gọn trong một câu: "Leslie has an almost naked love for being loved". (Leslie có một đam mê gần như trần trụi là được yêu.)

Song, nếu hiểu "khuynh hướng lãng mạn" (Romanticism) chỉ đơn thuần là tình yêu thì có nghĩa ta đã bỏ qua quá nhiều. Tình yêu chỉ là một trong những cách để bày tỏ sự lãng mạn mà thôi. Chủ nghĩa lãng mạn đã hình thành ở châu Âu từ rất sớm và đạt đến đỉnh cao vào nửa đầu thế kỷ 19. Rất nhiều học giả đưa ra khái niệm về Romanticism. Nhà phê bình Émile Faguet cho rằng: "Chủ nghĩa lãng mạn là sự khước từ thực tại và nguyện vọng muốn thoát ra khỏi thực tại đó." Một định nghĩa khác lại nói "Chủ nghĩa lãng mạn là thị hiếu về ước mơ, sự huyền diệu và phóng khoáng, của trí tưởng tượng vượt khỏi lề thói." Hoặc là "Chủ nghĩa lãng mạn là sự chiến thắng của chủ nghĩa tự nhiên và sự bộc bạch cái tôi.". Và dù là định nghĩa nào đi chăng nữa, thì Leslie Cheung và cuộc đời của anh, với tất cả những đặc trưng gắn liền với "lãng mạn": đề cao mộng tưởng, đề cao tình cảm và đề cao tự do, vẫn là sự tôn vinh dành cho chủ nghĩa lãng mạn trong thời hiện đại.

Điều đặc biệt đó là người ta có thể coi Leslie thuộc về cả chủ nghĩa lãng mạn tích cực, khuynh hướng lãng mạn vượt lên những định kiến để đạt đến những điều không tưởng, và cả chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực, khuynh hướng lãng mạn hoài niệm về một thời đã xa, tìm về một miền quá khứ mộng ảo và thu mình vào cái tôi bí ẩn. Ngoài lề một chút, sự lẫn lộn đó lại một lần nữa tô điểm thêm cho sự lẫn lộn cố hữu trong tài hoa và vẻ đẹp của anh: lẫn lộn giữa thực và mộng, giữa kịch và đời, giữa nam tính và nữ tính, giữa sự sống và cái chết. Tất cả mọi biên giới đều bị xóa nhòa trong Leslie Cheung.

Dựa trên những đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, bài viết sẽ làm sáng tỏ con người lãng mạn của Leslie Cheung thông qua việc làm sáng tỏ 3 con người của anh: con người mộng tưởng, con người tình cảm và con người tự do, lần lượt trên cả 3 sân khấu: sân khấu âm nhạc nơi anh là một ông hoàng, sân khấu điện ảnh nơi anh là một trong những diễn viên vĩ đại nhất, và sân khấu đời thực nơi cá tính độc nhất vô nhị khiến anh trở thành một biểu tượng không thể lặp lại, như hãng thông tấn CNN từng nhận xét về anh - "nam danh ca được ái mộ nhất cuối thế kỷ 20": "They don't make 'em like Leslie Cheung anymore." - Không ai còn có thể khiến cho mình giống Leslie Cheung được nữa.


II. CON NGƯỜI TÌNH CẢM LESLIE

Tôi sẽ bắt đầu với con người tình cảm Leslie, thứ mà bất cứ một ai sau khi xem những màn trình diễn của anh, sau khi đọc về cuộc đời anh, đều phải cảm khái mà thốt lên rằng: Liệu ai còn có thể yêu theo cách của Leslie được đây? Bộ phim đầu tiên của Leslie mà tôi xem là Thiện nữ ưu hồn (1987), một bộ phim liêu trai kinh điển của Hong Kong. Khi ấy, tôi còn rất nhỏ, nhỏ lắm, cũng chưa biết Leslie Cheung là ai, bộ phim được chiếu trên VTC1. Ngày ấy nhà tôi chỉ có đầu kỹ thuật số mà không có cáp. Tôi còn nhớ rõ ràng đêm hôm đó, tôi ngủ trên gác 3 với mẹ, thường thì khi ngủ với mẹ, tôi hay đi ngủ sớm, nhưng bộ phim đó hay đến nỗi khiến tôi quyết định sẽ thức để xem hết. Mặc dù từ đó đến nay có lẽ đã phải hơn 10 năm, nhưng chưa bao giờ tôi quên được cái cảnh Nhiếp Tiểu Thiện (Vương Tổ Hiền), trong bộ y phục màu đỏ mỏng manh ma mị, ẩy Ninh Thái Thần (Trương Quốc Vinh) xuống bồn nước để che giấu chàng, rồi hai người trao nhau một nụ hôn dưới làn nước ấy. Đó là một cảnh đẹp đến nao lòng và tình đến nao lòng, mặc kệ tất cả những mập mờ trắng đen và tội ác, nghi ngờ và sợ hãi, tình yêu vẫn thăng hoa, chẳng còn người mà cũng chẳng còn ma quỷ, chỉ còn thế giới ái tình diễm ảo mơ màng như bóng trăng trong bầu rượu.

Nhiều năm sau, tôi xem Bá Vương Biệt Cơ (1993), một trong những bộ phim quan trọng nhất trong lịch sử điện ảnh Hoa ngữ, chỉ bởi một thần tượng của tôi cho hay anh đã xem bộ phim này trên dưới 20 lần, (cho đến bây giờ, tôi có lẽ cũng đã xem nó được khoảng 20 lần rồi), và tôi bị choáng ngợp. Mặc dù mượn một điển tích nổi tiếng về chuyện tình giữa Ngu Cơ và Hạng Vũ, nhưng Bá Vương Biệt Cơ giống như một khúc hoan ca về nghệ thuật, một tấn bi kịch về sự đam mê, sự vỡ mộng, sự phản trắc giữa biến thiên lịch sử hơn là một câu chuyện về tình yêu đôi lứa đơn thuần. Dẫu vậy, hình ảnh chàng nghệ sĩ Kinh kịch bị ám ảnh bởi sân khấu Trình Điệp Y của Trương Quốc Vinh cũng vẫn có thể coi là đại diện cho một sự lãng mạn đến tuyệt vọng. Biết là mộng mà vẫn mơ, ai có thể si tình hơn Điệp Y nữa? Si tình đến mức quên đời, quên mình, vẽ lên lớp mặt nạ của nàng Ngu Cơ, để rồi chết chìm trong biển tình của chính vị ái thiếp đau khổ ấy. Mỗi lần "đôi mắt chỉ có thể thấy trong những giấc mơ của chúng ta về phù hoa quá khứ" của Điệp Y hướng về phía người bạn diễn Đoàn Tiểu Lâu của mình, cảm xúc của khán giả như bị vắt kiệt bởi tất cả những say đắm, mê muội, hoài mong, bi ai, thất vọng trong đôi mắt ấy. Trương Quốc Vinh trong Bá Vương Biệt Cơ yêu một cách cuồng nhiệt nhưng là sự cuồng nhiệt kiềm chế trong sự kiều diễm, cao quý, khuôn thước của một vương phi. Nhưng không vì bị kiềm chế mà nó thiếu đi sự lãng mạn, bởi nếu không phải là lãng mạn tột đỉnh, thì Điệp Y đã không tự tận bằng chính lưỡi kiếm đã từng vì nó mà lớp son của chàng nhạt phai lem luốc.

Trương Quốc Vinh đã để lại rất nhiều những vai diễn kinh điển thuộc đủ các thể loại, anh có thể cô đơn duyên dáng, hoặc cay độc nên thơ, hoặc tinh quái thanh lịch, hoặc suy đồi tao nhã, hoặc nổi loạn ngọt ngào, hoặc kể cả ngây ngô ăn hại, nhưng cho dù là trong vai diễn nào, Trương Quốc Vinh cũng là một người tình nồng nhiệt, tất nhiên mỗi vai diễn lại cho thấy một kiểu nồng nhiệt khác nhau. (Nên nhớ là ngay cả khi vào vai một vị linh mục cao khiết và thành thiện trong Tristar (1996) hay một kẻ sát nhân biến thái trong Double Tap (2001) thì anh cũng không thoát khỏi lưới tình). Theo Nigel Collett, ngay từ những buổi đầu của sự nghiệp điện ảnh, các đạo diễn đã tỏ ra vô cùng hứng thú với cách Leslie mô tả những cảnh yêu đương nóng bỏng. Còn chúng ta, khán giả, những kẻ bị ma thuật của anh thôi miên, làm sao có thể không gục ngã trước cảnh Louis (Trương Quốc Vinh) mỏng manh yếu đuối nằm tròng vòng tay của Tomato (Diệp Đồng) trong Liệt hỏa thanh xuân (1982)? Làm sao có thể quên được cảnh Sam (Trương Quốc Vinh) lao vào "người đàn ông" Wing (Viên Vịnh Nghi) trong cơn đê mê tình ái bất chấp nỗi sợ trở thành một người đồng tính trong Kim chi ngọc diệp (1994)? Làm sao có thể không tan chảy trước cảnh Trác Nhất Hàng (Trương Quốc Vinh) ôm hôn say đắm lang nữ Luyện Nghê Thường (Lâm Thành Hà) dưới ngọn thác đổ ào ạt, trong làn hơi nước hồ mị, ướt át như chính những nụ hôn của họ trong Bạch Phát Ma Nữ truyện (1995)? Và tất nhiên là cả cái sóng mắt cuồn cuộn lửa tình, miên man chất chứa nhưng u uẩn bất thành lời mà anh dành cho nàng nữa. Lâm Thanh Hà nói cô chỉ tin tưởng khi đóng những cảnh như thế với Trương Quốc Vinh, và có lẽ cô chưa bao giờ phải hối hận vì điều đó.

Cách Leslie diễn luôn đẩy cảm xúc lên ngưỡng cao nhất, y hệt như bật nắp một chai champagne để dòng rượu vang đỏ phun trào. Anh biến những cảnh sắc dục đẹp như một áng thơ, mềm mại và kích động. Anh hầu như không bao giờ là một người tình hờ hững, dù cho anh có sẵn sàng rũ bỏ bạn tình chỉ bằng một câu nói "Chúng ta có chuyện gì?", nhưng khi yêu thì anh sẽ không bao giờ hờ hững. Xem cách anh khiêu gợi trong A Phi chính truyện (1990), người ta mới biết tại sao phụ nữ sẵn sàng phục tùng anh và coi đó là ân huệ của mình. Anh ý thức được tất cả sức quyến rũ anh sở hữu và vì thế mà anh là kẻ nguy hiểm nhất trong trò chơi tình ái, anh biết khi nào anh phải khiến cho họ chìm đắm trong đôi mắt mình và khi nào phải khiến cho họ sợ hãi không dám chìm trong đôi mắt ấy. Nhưng đừng đổ lỗi cho sự yếu đuối của người phụ nữ, ngay cả những người đàn ông, như Lê Diệu Huy (Lương Triều Vỹ) trong Xuân quang xạ tiết (1997) chẳng hạn, cũng đâu thể cưỡng lại sự cám dỗ độc hại nơi Leslie?

Điều đặc biệt là gì? Leslie để họ chìm trước, nhưng rồi thì anh cũng chìm. Leslie luôn rời bỏ trước, nhưng đến cuối cùng anh lại là kẻ không thể dứt bỏ. Khi Tô Lệ Trân (Trương Mạn Ngọc) đã thôi không còn vấn vương đến cái ngày 16 tháng 4 năm 1960, 1 phút trước 3 giờ, Leslie sẽ hấp hối trên toa tàu nhìn về phía rừng dừa xanh thẳm, trên nền nhạc Always in my heart, và nhớ đến cô. Khi Lê Diệu Huy (Lương Triều Vỹ) leo lên chiếc tàu điện chạy xuyên qua thành phố lấp lóa ánh đèn, quá khứ Happy together dường như đã bỏ lại ở một nơi rất xa, thì ở đầu kia thế giới, Leslie sắp xếp những bao thuốc lá anh từng ném đi, ngắm nhìn đôi tình nhân trên cây đèn thác Iguazu rồi đổ gục trong vũng bóng tối nhập nhoạng nơi bình minh không thể chạm tới anh. Khi Như Hoa (Mai Diễm Phương) trả lại anh hộp son cùng câu nói: "Thập nhị thiếu gia, cảm ơn cậu vẫn còn nhớ đến em. Hộp son này em đã đeo 53 năm rồi, bây giờ xin trả lại thiếu gia. Em không đợi nữa.", chính là Leslie, trong thân xác của một lão già hoang tưởng, chạy theo níu giữ bóng ma xanh xao của nàng trong vô vọng.

Là như vậy, trên màn ảnh, Leslie là con thiêu thân bị hủy hoại bởi tình yêu, là biểu tượng cho một sự lãng mạn tự thiêu sống bằng ngọn lửa của chính nó. Còn trong âm nhạc lại khác hẳn, anh thâm tình và đong đầy ý vị ấm áp của tình yêu. Như nhiều người ở Việt Nam, bài hát đầu tiên của anh mà tôi nghe là Ánh trăng nói hộ lòng tôi trong World Tour Concert năm 1997. Nhưng khác với mọi người, tôi đã nghe nó trên zing mp3 chứ không phải trên youtube, vì vậy mà bạn có thể nói rằng tôi hoàn toàn chỉ là thưởng thức âm nhạc thuần túy mà không hề hay biết đến duyên cớ đằng sau nó. Nói thế nào nhỉ, tôi đã nghe Đặng Lệ Quân hát rất nhiều, nhưng kể từ khi tôi nghe Trương Quốc Vinh, tôi chỉ nghe Trương Quốc Vinh mà thôi. Tôi không nói rằng giữa hai người ai hơn ai, chỉ là tôi cảm được Trương Quốc Vinh nhiều hơn.

Đôi mắt Leslie u sầu, tiếng hát của anh cũng chẳng vui hơn là mấy, một nỗi sầu cố hữu mải miết đeo bám, không phải nỗi sầu nhân thế cũng chẳng phải nỗi bi thương đắng cay đau đớn, mà là một nỗi sầu theo kiểu số phận sinh ra là để sầu, sinh ra để mà khóc, khóc cho cạn khô cõi lòng thì vừa hay một vòng sinh tử. Những bản tình ca kinh điển: Chung tình với em, Gió tiếp tục thổi, Đời này kiếp này, Đương niên tình, Đồng hành cùng nhau,... không hiểu sao càng nghe lại càng thêm sầu muộn. Hoàn toàn không phải vì đời anh mà gán ghép vào âm nhạc của anh, mà ngược lại, vì nghe anh hát mà luôn tin tưởng rằng nhất định đằng sau mỗi bài hát, anh đã gửi gắm yêu thương chân thật, bởi nếu không phải như vậy, thì sẽ không thể hát câu: "Anh không có gì để cho em, nhưng anh muốn dùng bài hát này, cảm ơn em vẫn kiên định cùng anh trải qua bao sóng gió" lay động tới nhường ấy. Trịnh Công Sơn nói: "Có những bản tình ca một thời tôi đã viết cho một người. Người ấy sẽ đi hết đời mình và biến mất. Tôi cũng sẽ biến mất. Bản tình ca kia ở lại với ai?". Leslie không ở lại với chúng ta, nhưng tình yêu trong những bản tình ca một thuở vẫn ở lại, như một ấn chứng cho sự lãng mạn không thể bị diệt vong, tinh thần lãng mạn ấy có đời sống riêng nằm ngoài cả thân xác hữu hạn của người đã đem nó đến, và theo cách đó, Leslie trở thành bất tử.

Shakespeare nói cuộc đời là một sân khấu. Nếu như là vậy, tôi cho rằng: cuộc đời của Leslie là một vở kịch lãng mạn hoàn hảo. Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường đánh đồng Leslie trên kịch và Leslie trong đời là một. Xem anh diễn, mặc dù các hình tượng anh mô tả biến đổi liên tục và rất khác nhau, nhưng thật khó mà không nghĩ rằng ngoài đời anh chính là như vậy. Bản thân cuộc đời của Leslie là một sự mập mờ giữa thực và ảo. Nhưng làm sao trách khán giả được khi mà anh đã thổi bùng ngọn lửa lãng mạn của sân khấu ngay giữa đời thực, khi mà chính anh cũng không phân biệt nổi đâu là kịch và đâu là đời? Đó như là bản năng diễn của anh và cũng bản năng sống của anh. Ai có thể như Leslie, yêu một cô gái không biết tên, yêu một cách cuồng nhiệt rồi tưởng tượng như đó là Paul yêu Jeanne trong Last tango in Paris? Chúng ta yêu tiểu thuyết, yêu phim ảnh, nhưng có mấy ai trên đời này có đủ dũng cảm và mộng mơ như Leslie để đưa chúng vào đời thực? Hãy gọi đó là sự lãng mạn mù quáng cũng được, nhưng chẳng phải những tượng đài lãng mạn mà người ta thường ca ngợi đều là những kẻ mù quáng hay sao? Sự lãng mạn mù quáng đó như một thanh gươm khiến cho họ hiện lên thật hào hoa tươi đẹp, nhưng chính chúng lại cứa lên người chủ nhân của mình vô vàn những vết thương.

Vào năm Leslie 18 tuổi, anh rời khỏi trường trung học Eccles Hall (Anh Quốc), sau đó theo lời Leslie kể, anh đã tiếp tục học lên đại học Leeds, khoa Textile và chưa học được 1 năm thì buộc phải trở về Hong Kong vì cha anh trở bệnh. Đó là những gì chúng ta đã được nghe. Nhưng tác giả Nigel Collett, trong quá trình thu thập những tài liệu và thông tin về Leslie khi sống ở Anh, đã tìm ra những sự thật khác. Không có một records nào ở Leeds cho thấy Leslie đã từng theo học hay xin nhập học tại đây, kể cả trên giấy tờ hay theo trí nhớ của các vị giáo sư giảng dạy tại khoa dệt may, và câu chuyện lái theo một hướng hoàn toàn khác dựa trên những gì còn được lưu giữ tại Eccles Hall School. Năm 1974, Leslie đã bị buộc phải thôi học, vì một lí do mà sau khi đọc xong, tôi càng chắc chắn rằng nếu Chúa là một nhà viết kịch đại tài, thì Leslie hẳn là một trong nhân vật mà Ngài đã dành nhiều tâm huyết nhất. Chuyện là trong thời gian theo học, Leslie có một mối quan hệ đặc biệt với chàng trai trẻ tuổi hơn mình tên là Alan. Vấn đề xảy ra khi một chàng trai khác, Raymond Kelly, 14 tuổi, viết thư bày tỏ tình cảm với anh, và Leslie, một cách lịch thiệp như chính thứ tiếng Anh quý tộc mà anh đã tiếp thu không chỉ với tư cách một ngôn ngữ mà còn là một phong cách sống, đã hồi đáp và từ chối với lý do: I can't move away Alan's image, the things that we've done, I can still clearly remember, he is a part of my life, even he cheated me or not. Thật không may cho Leslie là bức thư của anh lại rơi vào tay mẹ của Raymond, và bà Kelly, hẹp hòi và ích kỷ, đã chuyển nó cho các cấp lãnh đạo trong ngành giáo dục. Và khi lá thư đến tay mình, hiệu trưởng nhà trường, ông Simington đã biên thư yêu cầu cha của Leslie cho anh thôi học. Ngày 5/2/1974, cha của Leslie, "ông vua may mặc" của Hong Kong, đánh điện tín bày tỏ sự bất ngờ khi nhận được "lá thư gây shock" đó và vào ngày 11, ông gửi một lá thư xin phép cho con trai mình được theo học hết năm học để khỏi phí hoài công sức học tập, đồng thời cũng thêm rằng có lẽ Frankie (tên lúc đó của Leslie) cần phải được sự giúp đỡ của y học hoặc các khóa điều trị tâm lý. Vào cuối tháng 6, Leslie trở về Hong Kong. Không ai biết được sau đó anh có phải chịu đựng bất kỳ khóa điều trị tâm lý nào không. Nhưng nếu có, thì hẳn đó là một trải nghiệm khủng khiếp bởi những cách để "chữa" đồng tính thời điểm đó là một cơn ác mộng.

Điều khiến cho tôi bị shock, hoàn toàn không phải chuyện Leslie đã nói dối về quá khứ của mình, mà bởi, bất chấp tất cả những tổn thương đó, Leslie vẫn có thể yêu và yêu hết mình. Leslie đã bị gia đình bỏ rơi trong phần lớn quãng đời thơ ấu, trong tình yêu, anh cũng thường xuyên là người bị từ chối, bị bỏ lại, bị phản bội. Vậy thì Leslie lấy đâu ra can đảm để tiếp tục yêu say đắm như cái cách mà anh đã dùng để yêu Đường Hạc Đức (Daffy Tong) trong nửa đời còn lại, nếu anh không phải là đứa con ruột của chủ nghĩa lãng mạn đang dần mục ruỗng trong thời hiện đại? Chỉ có những đứa con của chủ nghĩa lãng mạn mới có thể là người tình cuồng nhiệt như thế, có niềm tin bất biến vào tình yêu như thế, và ngạo mạn như thế về tình yêu của mình.


III. CON NGƯỜI MỘNG TƯỞNG LESLIE

Có một người hâm mộ phương Tây đã dùng lối so sánh này về Leslie mà tôi rất thích, cô ấy bảo rằng tình yêu mà khán giả dành cho Leslie giống như là tình yêu mà chàng Liễu Mộng Mai dành cho cô gái trong tranh trong vở kịch Mẫu Đơn Đình nổi tiếng từ thời nhà Minh của Thang Hiền Tổ, tức là tuy người đã chẳng còn nhưng dư âm, vang vọng còn cuồn cuộn mãi về sau. Nhưng cái so sánh ấy, tôi còn thấy hay ở chỗ, Liễu Mộng Mai và Đỗ Lệ Nương (tên người con gái trong bức họa) mới chỉ gặp nhau trong một giấc mơ, vậy mà tưởng như đã quen tự thuở nào, ý tình đã vô cùng sâu đậm. Có thể bởi vì tôi biết đến Leslie sau khi anh đã mất, có thể bởi vì tôi chưa từng được gặp anh như nhiều người đã yêu mến anh từ lúc sinh thời, nên đối với tôi, Leslie luôn là một cơn mộng mị. Nghe thật buồn cười nhưng quả là có những khoảnh khắc, tôi không chắc chắn lắm về sự đã-từng-tồn-tại của anh, tôi băn khoăn tự hỏi có phải tất cả chỉ là ảo ảnh chưa từng hiện hữu. Nó không hẳn đến từ việc anh đã không còn nữa, mặc dù đó là một phần lí do, nhưng là bề mặt thôi, sâu xa hơn thế, nó đến từ chính con người anh, con người mà đạo diễn Trần Khải Ca gọi là con người "thuộc về thời đã xa".

Thế giới mộng tưởng trong chủ nghĩa lãng mạn là thế giới phi thực, thế giới nơi con người tìm đến để trú chân, để thoát khỏi hiện thực tăm tối, có thể là chôn mình trong quá khứ tươi đẹp hay ao ước về một tương lai rạng rỡ. Về phần mình, tôi cảm thấy rằng, Leslie nghiêng về vế thứ nhất hơn.

Mặc dù đó có thể chỉ là một sự tình cờ, nhưng sự tình cờ về một mặt nào đó chính là số phận, rằng Leslie đã kết thúc cuộc đời mình và kết thúc luôn cả thời đại huy hoàng của Hong Kong. Trong cuốn Undercurrents: Queer culture and Postcolonical Hong Kong, tác giả Helen Hok-Sze Leung có viết ở chương 4 như sau:

"Cái chết của Trương được khóc than liên tục như sự qua đi của một thời đại. Nhà xã hội học Ng Chun-Hung tuyên bố: "một thế hệ chính thức khép lại". Học giả âm nhạc Joanna Lee gọi sự nghiệp 26 năm của Trương là "minh chứng cho sự thay da đổi thịt của Hong Kong." và đánh đấu cho "những năm tháng hoàng kim" của thành phố. Nhà văn kiêm họa sĩ Mathias Woo lại mô tả sự ra đi của Trương là "một đòn giáng đau thương vào thành phố đã có nhiều tang quyến" và "một hồi chuông báo tử của kỷ nguyên."."

Chưa cần biết đến con người mộng tưởng của Leslie, nhưng ngay cuộc đời anh đã là sự mộng tưởng cho những thế hệ có may mắn được chiêm ngưỡng anh. Mỗi lần nhìn những bức hình của anh, xem lại những bộ phim anh đóng hay nghe lại những bài ca anh hát, người ta hẳn sẽ thở dài: Ồ, hóa ra mọi thứ đã từng tốt đẹp như thế đấy. Cái chết cho Leslie quyền năng biến mọi người trở thành Miniver Cheevy thời hiện đại, say trong men rượu và oán trách vì sao mình đã sinh quá muộn màng. Và rồi, giống như chàng Gil trong Midnight in Paris muốn tìm đến những hồn hoa Paris những năm 20, để mà hội hè miên man với những Ernest Hemingway, Salvador Dali, Scott Fitzgerald, Man Ray, Luis Bunuel, Cole Porter, Pablo Picasso, Gertrude Stein, T.S.Elliot,..., sẽ có những người như tôi muốn xuyên không về những năm 80-90, để được nhìn thấy những người muôn năm cũ trong đó có Leslie Cheung yêu dấu.

Đó không phải sự sắp đặt trọn vẹn của tạo hóa hay sao, khi mà trong nghệ thuật, anh diễn tả sự hoài niệm quá khứ và đến đời thực, anh lại trở thành quá khứ để người ta hoài niệm. Trong Dạ bán ca thanh (1995), nhân vật "bóng ma nhà hát" Tống Đan Bình, với giọng ca mê đắm, gương mặt xinh đẹp, là biểu tượng cho đoạn hồi ức rực rỡ của nhạc kịch, để rồi, khi anh bị hủy nhan, cả thời đại đó, cả nhà hát đó, cả tình yêu mà khán giả dành cho ca vũ, cũng bị thiêu cùng ngọn lửa đã hủy hoại anh. Làm gì còn ai hợp hơn Leslie trong cái không khí cũ kỹ hương trầm, đèn nến và thuốc phiện? Cách anh say sưa hút nha phiến trong Yên chi khâu (1988) cũng giống như cái cách khán giả say sưa ngắm nhìn dung nhan cổ điển của anh, cũng giống như cái cách khán giả say sưa trong hoài niệm về anh và về một thời đã qua sẽ không còn lặp lại.

Bởi vì có những người như anh nên mới có những kẻ ngẩn ngơ tiếc nuối quá khứ như tôi. Đừng hỏi tại sao con người mắc chứng cái gì của quá khứ cũng thấy nó tốt đẹp hơn, là bởi vì có những người đẹp như anh đấy. Chẳng phải anh đẹp đến thế nên quá khứ mới đẹp đến thế hay sao? Làm thế nào mà quên được hình ảnh anh, muôn phần xinh đẹp trong bộ vest lấp lánh và làn môi đỏ dỗi hờn, trên sân khấu một concert cá nhân đêm giao thừa năm 1997, cùng tất cả các khách mời nhảy múa vui vẻ giữa tiếng nhạc Auld Lang Syne. Không còn hình ảnh nào sau đó có thể rạng rỡ như hình ảnh của Leslie ngày hôm đó trong mắt tôi. Có thể, đó là con người mộng tưởng của tôi, của những khán giả yêu anh hơn là con người mộng tưởng của chính anh. Nhưng có sao đâu, đó chẳng phải là biểu hiện của một huyền thoại ư, khi mà ngay cả những gì anh không chủ ý tạo ra vẫn tạo ra những tầng ý nghĩa, và hơn hết, đó là những tầng ý nghĩa chúng ta chỉ nhận ra sau khi anh đã chết?

Nói đến con người mộng tưởng Leslie, sẽ là một thiếu sót, nếu không nói là một thiếu sót vô cùng lớn, nếu không nhắc đến nhân vật Âu Dương Phong của anh trong Đông Tà Tây Độc (1994). Trong vai một kiếm khách cay nghiệt và mỉa mai, Leslie chạy trốn một quá khứ chỉ để nhận ra càng cố quên thì lại càng ghi nhớ. Đó không phải là sự lãng mạn giống như trong Dạ bán ca thanh, đó là sự lãng mạn dằn vặt và khốn khổ bởi những mâu thuẫn nội tâm: tôi muốn nhớ - tôi không muốn nhớ, tôi trông chờ được trở về quá khứ ấy - tôi không trông chờ được trở về quá khứ ấy. Giữa sa mạc trùng trùng sa mạc, Leslie bị vùi lập trong lớp tro tàn của thời gian, mộng tưởng về một quá khứ mà anh muốn quên nhưng chẳng thể quên. Ký ức đối với anh giống như một mê cung nơi anh không có ý định tìm về chốn cũ nhưng cuối cùng lại luôn lạc bước về chốn cũ. Khuynh hướng lãng mạn của Leslie trong bộ phim này là khuynh hướng lãng mạn bế tắc, nó không thể giải quyết bằng cái chết như khuynh hướng lãng mạn tiêu cực, cũng không thể giải quyết bằng cách đứng lên tạo lập một thế giới mới như khuynh hướng lãng mạn tích cực, nó chỉ có thể nằm đó quặn thắt trong lặng im, trong một vò rượu mang tên Túy sinh mộng tử.

Và lại một lần nữa, phải nhắc tới Trình Điệp Y trong Bá Vương Biệt Cơ, cũng là một đỉnh cao của con người mộng tưởng Leslie. Bản thân Trình Điệp Y là đại diện cho quá khứ vàng son, cho sự lỗi thời đẹp đẽ và tinh túy. Tất cả những gì thuộc về Điệp Y đều thuộc về quá khứ ấy: Kinh kịch, Hạng Vũ, vai diễn Ngu Cơ. Chỉ có thể nói, anh đã sinh nhầm thời. Cơn vỡ mộng của anh đẹp lắm, nó bừng sáng như lưỡi gươm anh rút ra từ bao kiếm của Tiểu Lâu, đó cũng là giây phút sự lãng mạn thăng hoa. Sự lãng mạn cần cái chết để thăng hoa, vì chỉ có cái chết mới đưa người ta đến một thế giới mới, mà vượt thoát khỏi tầm thường để vươn lên một thế giới lý tưởng, đó chính là lãng mạn.

Ngay cả bài hát chủ đề của Bá Vương Biệt Cơ, Khi tình yêu đã thành chuyện dĩ vãng, nó dường như được sinh ra là để Leslie hát vậy. Tôi nhớ đã từng khóc khi nghe anh biểu diễn trực tiếp bài hát đó, với giọng hát trầm, buồn, tỉnh và mơ lẫn lộn, với đôi mắt luôn nhìn về một chốn nào đó thật xa xôi mà chỉ anh mới có thể thấy. Nhìn anh khi ấy, giống như một con chim trong lồng muốn bay, muốn bay đi khỏi cái lồng vàng kìm giữ nó, nhưng anh muốn bay đi đâu, ai mà biết được. Những kẻ tầm thường ở một thời đại thực dụng như tôi, có thể hiểu gì về giấc mơ của một cánh chim lãng mạn như anh nào?

Quay lại với câu chuyện về tuổi thơ anh đã che giấu mà tôi tường thuật lại trong phần2, cách Leslie đã đối xử với quá khứ ấy cũng lãng mạn biết mấy. Tại sao lại lãng mạn ư? Bạn còn nhớ trong tiểu thuyết Life of Pi của Yann Martel chứ? Bạn có nhớ chương cuối cùng khủng khiếp đó chứ? Tôi đã sụp đổ khi đọc tới đó. Câu chuyện chiến đấu sinh tồn tuyệt mỹ như vậy giữa biển khơi với bạn đồng hành là con hổ, con đười ươi, con ngựa vằn, con linh cẩu, hóa ra chỉ là một ẩn dụ của Pi cho sự thật đáng sợ mà cậu phải chứng kiến. Nhưng tại sao Pi lại phải làm như thế nếu không phải vì nếu không làm vậy, cậu sẽ không thể sống được với ký ức đen tối đó? Nói gì thì nói, đó là một thái độ đầy lãng mạn. Lãng mạn đã cứu rỗi tâm hồn của cậu, đã tưới nước cho nó và không cho nó chết ngạt bởi bàn tay rướm máu và sự nhẫn tâm của con người. Với Leslie cũng vậy, quá khứ đó với anh cay đắng đến nỗi, anh muốn xóa sạch nó đi, anh muốn nó chưa từng tồn tại, và để gạt bó nó, anh tự tưởng tượng ra một câu chuyện hoàn toàn khác đến mức một ngày kia chính anh cũng không còn phân biệt được đâu là thật và đâu là giả nữa. Những kẻ nghi ngờ hãy cứ coi hành động đó là vấn đề của việc giữ gìn thanh danh. Nhưng với tôi, 1 kẻ đã có không ít kinh nghiệm trong việc tự lừa dối chính mình, BIẾT rằng hành động đó là vấn đề của việc tự cứu lấy tâm hồn mình bằng một con tim lãng mạn khỏi những vết thương không thể chữa lành.


IV. CON NGƯỜI TỰ DO LESLIE

Có một giai thoại như thế này về Leslie Cheung: đó là năm 1997, khi Leslie gây chấn động với những màn biểu diễn táo bạo chưa-từng-có, chính phủ Trung Quốc Đại Lục đã yêu cầu anh không được đem những bộ trang phục khêu gợi đó tới trình diễn tại đây. Được thôi, vậy thì Leslie sẽ không mặc những bộ trang phục ấy nữa. Nhưng thay vào đó, anh đổi sang những bộ còn... khêu gợi hơn.

Một đặc trưng lớn của Chủ nghĩa Lãng Mạn đó là đề cao sự tự do, khoáng đạt, sức sáng tạo vượt mọi rào cản và biên giới. Nó không chấp nhận những gồng xích và gồng xích duy nhất của nó chính là ý chí luôn luôn phải vươn tới một giới hạn mới. Leslie là một người trình diễn như vậy. Trong điện ảnh, có thể mượn lời Philippa Hawker, cựu biên tập tạp chí điện ảnh Cinema Papers, để nhận xét về anh: "Leslie có một phẩm chất ngôi sao dường như đến từ thời đại khác. Anh được so sánh là tương đồng với James Dean và Montgomery Clift – những nghệ sĩ trình diễn cùng lúc vừa phá bỏ vừa sáng tạo lại khái niệm thế nào là một nam diễn viên, và đem tới một hình tượng nam nhân khác biệt cho màn ảnh.". Vẻ đẹp mong manh, yếu đuối, nữ tính của Leslie không giống như bất cứ một nam diễn viễn nào khác, và đó là điều không thể bắt chước hay học hỏi. Có một số diễn viên giả gái nhưng người ta luôn thấy sự gồng mình và khi họ trở về với phong thái một người đàn ông thì ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Nhưng với Leslie thì không. Không bao giờ thái quá, Leslie luôn diễn vừa đủ theo cách nó sẽ diễn ra như thế ở ngoài đời, hoặc chí ít là anh tạo cho ta cảm giác mọi thứ sẽ diễn ra như thế ở ngoài đời, và trong rất nhiều trường đoạn, nếu như bạn không biết anh từ trước, cho dù có nói anh là một nữ diễn viên, tôi chắc chắn bạn cũng tin sái cổ, như trường hợp của một vài người bạn của tôi chẳng hạn (và ngay cả tôi nữa, khi em gái tôi cho tôi xem tấm ảnh của anh trong Gia hữu hỷ sự 2 (1993), tôi đã thực sự nghĩ đó là Vương Tổ Hiền).

Nhưng Leslie không cần giả gái, không cần váy cũng không cần son, anh vẫn có thể trở nên nữ tính ngay cả khi anh đang là một người đàn ông có xu hướng tình dục dị tính. Anh luôn đột nhiên trở nên mềm mại và duyên dáng mỗi khi đứng bên những kẻ mạnh mẽ khác. Sẽ không bao giờ có chuyện Leslie cứu Châu Nhuận Phát cả mà chỉ có thể là Châu Nhuận Phát giải vây cho anh, cưng chiều và an ủi anh như trong Anh hùng bản sắc (1987) hay Tung hoành tứ hải (1991). Đương nhiên là sự kết hợp giữa anh và Lâm Thanh Hà hay Mai Diễm Phương, sự tráo đổi giới tính giữa họ, là những sự kết hợp có một không hai trong lịch sử điện ảnh Hoa ngữ. Tôi rất thích tên tiếng Anh của Kim chi ngọc diệp II (1995): Who's the woman, who's the man? vì theo một cách hiểu, nó chính là sự băn khoăn của chúng ta khi thưởng thức một người diễn viên có khả năng biến chuyển những trạng thái về giới liên tục như pha những bảng màu như Leslie Cheung.

Trên lĩnh vực âm nhạc, tôi sẽ nói thế này: Những ai mắc chứng đau tim, tốt nhất là không nên xem Leslie biểu diễn. Cho đến bây giờ, những màn trình diễn của Leslie trong Passion Tour năm 2000 vẫn là đi trước thời đại, vẫn khiến cho vô khối những người của thế kỷ 21 phải há hốc mồm vì sự cách tân, sự táo bạo của nó. Tôi thậm chí đã không dám xem toàn bộ buổi biểu diễn đó cho đến khi lấy đủ can đảm và tình yêu dành cho anh đã đủ lớn. Thật dễ hiểu tại sao vào thời điểm đó, nó lại gây nhiều tranh cãi đến thế, thậm chí nếu nó được biểu diễn ngay lúc này, nó cũng sẽ gây ra nhiều tranh cãi không kém. Nhưng có làm sao đâu, bởi lịch sử cho thấy rất nhiều những thứ vĩ đại, từ khoa học cho đến nghệ thuật, khi mới xuất hiện đều là đề tài tranh cãi không dứt của dư luận: thuyết nhật tâm cũng thế, duy vật biện chứng cũng thế, thuyết tương đối cũng thế, Hồng Lâu Mộng cũng thế, Picture of Dorian Gray cũng thế,... Khi sáng tạo đi trước thời đại, đó không phải vì sáng tạo đã đi quá nhanh, mà vì thời đại đã đi quá chậm.

Và, một con người có thể tự do đến thế trên sân khấu, sẽ chẳng có gì nhạc nhiên nếu anh ta/cô ta có cùng sự tự do trong cuộc đời. Có một chi tiết trong cuốn sách của Nigel Collett làm tôi thực sự choáng váng. Đó là vào khoảng thời gian khi Leslie theo học ở trường trung học Rosaryhill, một trường Công giáo ở Hong Kong, anh có quan hệ tình cảm với một người bạn cùng giời. Chúng ta đều biết tình yêu đồng giới là một thứ không được chấp nhận trong Thiên Chúa, nhưng cậu bé Leslie đã phản kháng một cách đầy lãng mạn bằng cách lẻn vào Giáo đường vào lúc không có ai ở đó, nắm tay và hôn người bạn của mình ngay trước tượng chúa Jesus, như một lời thách thức đối với Chúa, một lời thách thức chỉ có thể thấy ở những kẻ lãng mạn tột cùng, tự do tột cùng và bay bổng tột cùng. Và bởi vì Chúa đã không giáng một đòn sấm sét vào đôi bạn trẻ, hẳn là kể từ đó Leslie đã tin rằng, Chúa đã luôn đứng về phía họ, còn tất cả những lời truyền dạy chống lại họ đều là giả dối.Đó không phải lần thách thức duy nhất của Leslie đối với thế giới (như chúng ta đều biết), mặc dù sau đó, có lẽ anh đã hành động như một thiên thần mang theo ý nguyện thực sự của Chúa hơn là phản kháng Chúa. Trong bài hát nổi tiếng Leslie từng sáng tác như tuyên ngôn của chính mình, mới có câu:

Tôi yêu con người tôi, là đóa hoa nở rộ theo cách của riêng mình. Thậm chí giữa sa mạc hoang vu, vẫn có thể trổ hoa đầy kiêu hãnh.


V. Tôi vẫn luôn nghĩ Leslie là một con người lãng mạn. Nhưng khi tôi tìm hiểu nhiều hơn về anh, tôi mới thực sự tin là như thế. Tôi nhận ra nếu không phải là anh, thì chẳng ai còn có thể là Romeo, là Werther của thế kỷ 20. Đó không chỉ nằm ở chuyện anh có thể đọc thuộc rất nhiều phân cảnh giữa Romeo và Juliet trong vở kịch cùng tên của William Shakespeare bằng tiếng Anh khi mới 10 tuổi (cái tuổi phần lớn mọi người còn chưa thèm quan tâm Shakespeare là ai), hay việc anh hẳn đã lẻn vào rạp chiếu bóng để xem bộ phim Romeo và Juliet của Franco Zeffirelli năm 1968, hay việc anh đã hóa thân vào chàng Romeo trong bộ phim The Phantom's lover năm 1995, mà quan trọng hơn, chỉ có Romeo mới có thể sống theo cách lãng mạn như thế và chỉ có Romeo mới có thể đem sự lãng mạn bất tử của thi ca vào chính cuộc đời thực như thế.

Đôi khi, tôi coi cái chết của anh giống như là màn khép lại hoàn hảo của một màn đại bi kịch. Cũng có khi, tôi lại nghĩ đó là minh chứng cho sự vô thường của kiếp người, cánh hồ điệp đẹp tươi đến thế rồi cũng chỉ còn lại làm hư không. Nhưng ngay giờ này phút này, ngay khi đang viết những dòng này, tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng đó là một khoảnh khắc giống như là khi Beethoven (tình cờ hay cố ý cũng là 1 biểu tượng lãng mạn) đã nói trước khi trút hơi thở cuối cùng: "Plaudite, amici, comedia finita est!" (Vỗ tay lên, bạn của tôi, màn kịch này đã chấm dứt rồi), hay đơn giản hơn, như khi anh đang hát ca khúc American Pie, ca khúc đầu tiên anh đã hát để bắt đầu sự nghiệp lừng lẫy của mình (và nhiều năm sau, đã trình diễn lại nó trong chiếc váy nổi loạn hứng chịu đầy chỉ trích):

So bye, bye, Miss American Pie
Drove my Chevy to the levee but the levee was dry
And them good old boys were drinking whiskey 'n rye
Singin' this'll be the day that I die
This'll be the day that I die.

Tôi không cho rằng Leslie là một con người bi quan, nếu như là một người bi quan, hẳn là anh đã chọn cách tự sát ngay ở tuổi 18 chứ không phải đợi tới gần 30 năm sau đó. Ngược lại, Leslie đã sống với tất cả sự lạc quan của một con người lãng mạn, Leslie đã sống một cách toàn vẹn trong sự bất toàn của cuộc đời này. Và chăng, nếu có lỗi của một ai đó, thì xin phép mượn cụm từ mà Shakespeare đã viết, đó chỉ là "lỗi của những vì sao"

Một người bạn của tôi từng hỏi tôi rằng: Có phải bởi vì Leslie đã chết nên mày mới yêu anh ấy nhiều vậy đúng không? Thật ra tôi có thể trả lời cậu ấy rằng, vớ vẩn, tao mong anh ấy sống còn chả hết, nhưng không, đúng là bởi vì anh đã chết, mà tôi yêu anh nhiều đến thế. Nhưng điều đó cũng không hoàn toàn đúng bởi tất cả những ai yêu Leslie thật lòng, có lẽ sẽ hiểu rằng, nếu Leslie không chọn cái chết đầy quyết liệt như thế, đó đã không phải là Leslie mà chúng ta ngưỡng mộ. Tôi nhớ trong bài hát Starry Starry nights mà Don McLean đã viết về danh họa Vincent Van Gogh, có một câu thế này:

But I could have told you Vincent, this world was never meant for one as beautiful as you.

Đó cũng là những gì mà tôi luôn nghĩ về Leslie. Làm sao chàng Romeo của thế kỷ 16 có thể sống trong thế kỷ 20 điên cuồng và phức tạp ấy? Chàng không thể thoả hiệp với sự tầm thường đó. Cho nên cái chết của chàng là một điều không thể tránh khỏi. Và tôi yêu Leslie nhiều đến vậy, không phải vì anh đã chết, chính xác hơn, vì anh không thuộc về thế giới này.


- Hiền Trang -